Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ tình. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thơ tình. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Thơ tình viết trong nhà

1.


thi sĩ nghĩ
về năm bông hồng nở trong vườn có thể ngắt vào phòng
và năm người nữ chờ mở cửa khắp địa cầu

“con người ta chỉ có một mặt trời để ngửa mặt mỗi ngày
như bụi hồng cần nắng”
thi sĩ phu nhân nói vậy

rồi cả hai bước vào buồng ngủ
lần lượt
trong đêm
như mọi đêm trước


2.

tin truyền hình vừa nhắc tên
(em trùng tên người yêu một nhân vật tiếng tăm
bất hạnh)

rất may
đây lần đầu và chắc là duy nhất

bởi trong nhà anh và vợ con không có thói quen
ăn cơm vui vẻ bên màn hình độc thoại
như rất nhiều nhà khác


3.

dưới nắng
người đàn bà cắt các bông hồng vàng
mà suốt tháng
nghĩ lại tình riêng người đàn ông thường ngắm
những ngày mưa
những ngày mưa

người đàn bà đang mang vào và sắp
cắm trong phòng khách

“bông hoa này là của chung…” *)

cái bài ca thuở họ còn bé nhóc
những đứa trẻ sẽ hát


4.

anh đang suy ngẫm chúng mình
ít chuyện về người yêu cũ
không phải vì chúng mình ít chuyện
hay
ít người yêu cũ

thì em nói kìa anh
con sóc nhỏ nhảy mãi
ngoài hiên


5.

bốn góc vườn bốn loài hoa
bàn viết
              phòng văn
ở giữa
nhà

ngay cả nếu hoa biết nói
cũng không mời gọi ai tới
ngắm

ngay cả khi hoa biết chạy
cũng không chạm cửa nhà thơ

bốn góc vườn hoa


6.

chiêm ngưỡng đóa hoa kia là dành cho bài thơ khác
những gì về hoa ở bài thơ này
ít nhất từ mùa xuân trước

tôi chỉ mở ra các lời thơ ủ đông

nhưng thật tình
em thứ lỗi
không thể nào biện biệt
bài-thơ-em và bài-thơ-không-em


7.

trước những đóa hoa, ta thường tự hỏi: hoa hay thơ?
và ngược lại, cũng như thế, khi trước ta những bài thơ đẹp

trước những người nữ, ta thường tự hỏi: người nữ hay thơ?
và ngược lại, cũng như thế, khi trước ta những bài thơ hay


8.

sóc ở đây đào giấu hạt dẻ khắp vườn
đừng làm mất vết của chúng nếu muốn
khuôn viên đẹp
             (trích hợp đồng thuê nhà)

trong sự luôn đẹp
thơ không còn cảnh giới
    nào khác
ngoài những hạt dẻ thời gian


9.

vườn hoang
dạo mưa
biên tập thơ-tình-viết-trong-nhà

dẫu là mưa dẫu là biên tập dẫu là vườn hoang

ơ hơ, mưa rơi không cần biên tập **)


10.

thơ tình viết trong nhà

ở nơi tôi yêu một người có quần đảo chết oan
có những người đã, đang và sẽ còn phải sống

thơ tình viết trong nhà

nơi khác
sau đêm đầu tiên bé gái tảo hôn bị chồng cắt mũi

thơ tình viết trong nhà

nơi khác nữa
lật tẩy chương trình chính phủ nghe lén: mất đường về tổ quốc

thơ tình viết trong nhà

ở nơi nào tôi có người yêu là có người, vật, sự việc
vấn nạn


thơ tình phải viết trong nhà.

Vancouver 25.5 – 6.7.2013
Đỗ Quyên

Nguồn Vanvietnam.net ngày 11-07-2013
--------------
*) Ca khúc của Văn Tấn thịnh hành từ những năm 1970 ở miền Bắc
**) “Mưa rơi không cần phiên dịch” (thơ Trần Dần)

Thứ Hai, 18 tháng 6, 2012

THÁNG SÁU TRỜI MƯA

Tác giả: Nguyên Sa
                                                                                 Ảnh minh họa

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa phong toả đường về
Và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Đôi mắt em anh xin đừng lo ngại
Mười ngón tay đừng tà áo mân mê
Đừng hỏi anh rằng: có phải đêm đã khuya
Sao lại sợ đêm khuya, sao lại e trời sáng...

Hãy dựa tóc vào vai cho thuyền ghé bến
Hãy nhìn nhau mà sưởi ấm trời mưa
Hãy gửi cho nhau từng hơi thở mùa thu
Có gió heo may và nắng vàng rất nhẹ

Và hãy nói năng những lời vô nghĩa
Hãy cười bằng mắt, ngủ bằng vai
Hãy để môi rót rượu vào môi
Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn

Gió có lạnh hãy cầm tay cho chặt
Đêm có khuya em hãy ngủ cho ngoan
Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn
Nếu em sợ thời gian dài vô tận

Tháng sáu trời mưa, em có nghe mưa xuống
Trời không mưa em có lạy trời mưa?
Anh vẫn xin mưa phong toả đường về
Anh vẫn cầu mưa mặc dầu mây ảm đạm

Da em trắng anh chẳng cần ánh sáng
Tóc em mềm anh chẳng thiết mùa xuân
Trên cuộc đời sẽ chẳng có giai nhân
Vì anh gọi tên em là nhan sắc

Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi
Anh sẽ nói thầm như gió thoảng trên vai
Anh sẽ nhớ suốt đời mưa tháng sáu

Tháng sáu trời mưa, trời mưa không ngớt
Trời không mưa anh cũng lạy trời mưa
Anh lạy trời mưa phong toả đường về
Và đêm ơi xin cứ dài vô tận

Holly st

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Thân tặng Ngọc Hà và các bạn nữ K22

Em vẫn đợi anh về





Tác giả: Lê Giang






Năm tháng đội mưa rừng
Ngày đêm vùi sương núi
Em vẫn chờ vẫn đợi
Anh sẽ về với em…


Đợi phút giây bình yên
Chờ đạn bom ráo tạnh
Để được ngồi bên anh
Để được yêu, được giận

Để được hờn, được ghen
Để vui và ưu phiền
Để làm chồng làm vợ

Như buồm căng đợi gió

Như trời xanh đợi chim
Như đời khát hòa bình
Như lòng em khát anh

Bình yên và chiến tranh

Mùa xuân và bão tố
Ngày mai hay quá khứ
Mãi mãi là bên anh!

01.09.1979




Bài thơ này đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc thành nhạc phẩm cùng tên.
Dưới đây là phiên bản do Ánh Tuyết trình bày.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2011

Mùa thu


Mùa thu ở Đức

Ngày xưa  nhà mình ở 5B HHT HN có cây hoa sữa, mỗi khi thu về hương thơm  quyến rũ lắm.

Mùa thu nhớ cốm và hương vị của nó quyện với sự tinh khiết của lá sen.

Hoa lộc vừng nở đỏ rực ven hồ gươm

Có phải em mùa thu Hà Nội

Tác giả: Tô Như Châu
Tháng Mười Hai1
Tháng Tám mùa thu lá khởi vàng chưa nhỉ.
Từ độ nguời đi thương nhớ âm thầm.
Có phải em là mùa thu Hà Nội.
Tuổi phong sương ta cũng gắng đi tìm...

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Trần Quang Lộc phổ nhạc thành nhạc phẩm cùng tên.
Dưới đây là phiên bản do Hồng Nhung trình bày.

Nhớ thu xưa

Trông hoa lại nhớ đến người tôi thương.
Chúc mừng ngày 20 tháng mười
(Thân tặng một bạn nữ 10G - K22 Nguyễn Trãi Hà Nội)


Mùa thu năm ấy ít mưa
Trời se se lạnh, gió đưa quả bàng,
Păng-xê e ấp tím vàng,
Lòng tôi xao xuyến nhớ nàng làm sao?!


Ông Trời thỏa mãn ước ao,
Chiều thu nàng đến, hanh hao nắng vàng,
Mười ba bông cúc xếp hàng,
Bạn bè chọc ghẹo tình nàng với tôi...


Tim tôi xúc động bồi hồi,
Hồng nhung một đóa tặng tôi nàng cười,
Thu đi đông đến quê người,
Vào nam công tác, nhà người làm dâu,...


Tôi đi xứ lạ trời Âu,
Bặt vô âm tín biết đâu mà tìm,
chỉ có nỗi nhớ trong tim,
Như ngọn lửa hồng, chiều tím đường xa...


Nàng mặc chiếc áo bà ba,
Dâu hiền, vợ đảm việc nhà vẹn chu,
Thoi đưa thấm thoắt mấy thu,
Thời không tin tức mịt mù nhớ nhung,...


Kẻ Âu người Á nghìn trùng,
Vừa qua gặp lại trùng phùng vấn vương,
Rằng thương thì rất là thương,...
Giờ đây thuyền đã lên đường xa khơi!!!


Chúc nàng hạnh phúc nàng ơi,
Không duyên, không phận một đời tôi mang.


Thu 2011, Berlin-CHLB Đức.



TB: Đấy là bông hoa hồng nhung đầu tiên và đẹp nhất trong đời mà tôi được tặng!


Thái Hòa(10G).

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

Đi tìm xuất xứ của bài thơ Tạm biệt Huế của Thu Bồn


Cửa Ngọ Môn
Tạm biệt Huế

Tác giả: Thu Bồn
Tháng Một17
Bởi vì em dắt anh lên những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày quên lãng
Mặt trời vàng và mắt em nâu.

Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh mãi nhớ trong mơ
Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng lầm em với cố đô.

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
Nắng minh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế nhưng đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng.

Nhịp cầu cong và con đường thẳng
Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.

Tạm biệt Huế với em là vĩnh biệt
Hải Vân ơi xin Người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hóa đá phía bên kia.
TH st.
Các bạn thân mến, lâu nay chúng ta đã biết tài năng thơ ca của Thu Bồn, đặc biệt bài thơ Tạm biệt Huế của cố thi sỹ đã để lại một dấu son và nhiều mến mộ trong lòng bạn đọc và những người yêu thơ. Nhưng nhiều người đã cố dò hỏi và đi tìm nguồn gốc bài thơ cũng như bóng hồng hay tà áo tím nào đã làm rung động con tim của nhà thơ, đã là nguồn cảm hứng lai láng để nhà thơ Thu Bồn sáng tác ra một áng thơ tuyệt vời đến như vậy? Chắc hẳn ngoài phong cảnh hữu tình của xứ huế, còn có nét đẹp dịu hiền của những tà áo tím, giọng nói ngọt ngào dễ thương và thông minh sắc xảo của những cô gái xứ Huế đã làm nhà thơ phải:"Một đời anh tìm mãi Huế nơi đâu?". Chúng ta hãy xem đoạn văn sau sẽ thấy tại sao mối tình của Thu Bồn đã trở thành mối tình câm và trái tim của nhà thơ đã hóa đá:

Chuyện sợ vợ

Chả hiểu sao mấy hôm nay ngồi đâu cũng nghe kháo chuyện sợ vợ. Đi Bến Tre về nhà Tâm Chánh, uống rượu sâm Ngọc Linh nói chuyện Biển Đông chán chê lại quay sang chuyện sợ vợ. Về nhà Võ Đắc Danh tán chuyện sợ vợ cho tới khuya. Sáng mai uống cà phê, Huy Đức nhìn mình cười cười, nói tối qua bác say, hát hò ghê quá. Mình hỏi hát cái gì. Huy Đức nói mỗi bài ca sợ vợ mà bác hát đi hát lại đến nỗi tôi thuộc làu. Nói rồi Huy Đức ngâm nga: “Nằm chung thì bảo…chật giường/ nằm riêng lại bảo…tơ vương em nào/Lãng mạn thì bảo…tào lao/ Đứng đắn lại bảo…người sao hững hờ/ Khù khờ thì bảo…giai tơ/ Khôn lanh thì bảo…hái mơ bao lần.” Hi hi.
Có lẽ ai cũng có ít nhất dăm bảy chuyện sợ vợ, mình cũng thế. Nhớ nhất cái Hội sợ vợ thời mình làm việc ở Huế.
Thời trai trẻ nghe người ta kháo nhau chuyện sợ vợ cứ nghĩ họ chọc nhau chơi vậy thôi chứ vợ có gì đâu mà phải sợ. Mấy anh lớn nghe mình nói thế thì xoa đầu mình cười cười, nói lấy vợ đi rồi biết em ơi. Mình chả tin. Chẳng qua đàn ông hay đem chuyện sợ vợ ra để trêu nhau, chọc quê nhau vậy thôi, dần dà mới biết té ra cho chuyện đó thật. Hôm mình mới về Sở VHTT Bình Trị Thiên, làm việc ở Phòng quản lý xuất bản, anh Vĩnh Nguyên cười khà khà, nói thằng này gia nhập Hội sợ vợ rồi. Mình nhăn răng cười, nói thiệt hả anh, phòng em toàn dân sợ vợ à. Anh Vĩnh Nguyên nói cả thành phố Huế này đều là dân sợ vợ, trừ tao. Mỗi tao không sợ vợ, răng mà tao đơn độc rứa không biết. Mình hỏi Văn Lợi, nói Vĩnh Nguyên nói vậy đúng không. Văn Lợi cười phì, nói đúng một nửa. Phải nói thế này mới đúng: cả thành phố Huế đều là dân sợ vợ mà Vĩnh Nguyên là ông sợ vợ nhất. Mình gặp Vĩnh Nguyên nhắc lời Văn Lợi, anh cười bẽn lẽn, nói không không, Văn Lợi vẫn không nói đúng sự thật. Tao sợ vợ thứ nhì thôi, Văn Lợi  mới là ông sợ vợ nhất. Văn Lợi là hội trưởng hội sợ vợ của chúng mày đó.
 Hồi đó phòng quản lý xuất bản có 5 anh em, mình chưa có vợ, còn lại  các anh Bính Văn, anh Hải Bằng, Văn Lợi, Dương Toàn Thắng đều nổi tiếng sợ vợcả. Nói anh Văn Lợi sợ vợ cũng hơi oan, anh hâm mộ vợ thì đúng hơn. Chị Tùng rất đẹp, quản gia nội trợ ngon lành, anh Văn Lợi làm về chỉ có việc ngồi vểnh râu pha trà uống chứ chẳng phải làm gì. Đụng có việc gì chị đều đưa ra ý kiến rất xác đáng. Chị Tùng đã không nói thì thôi hễ nói ra điều gì chỉ có đúng trở lên. Văn Lợi hâm mộ vợ là phải, nói chuyện gì cũng Tùng nói thế này, Tùng nói thế kia. Mọi người vì thế có cớ chế anh sợ vợ, nói với Văn Lợi trên đầu có trung ương, dưới bụng có bà Tùng. Mình cũng trêu anh như vậy, anh trợn mắt lên, nói tôi có đội vợ lên đầu đâu, tôi đặt vợ dưới bụng, sao bảo tôi sợ vợ.
Anh Mai Văn Tấn còn viết hẳn một chuyện cổ tích Sự tích cái ống bương nướcđể trêu Văn Lợi. Đại khái ngày xửa ngày xưa có anh Văn Loi hiền lành tốt bụng cưới một cô gái rất xinh đẹp tên là A Tung. Vì quá yêu vợ, Văn Loi không để cho A Tung làm gì cả. Một hôm Văn Loi vào rừng săn bắn tối mịt vẫn chưa về. Ở nhà hết nước, A Tung không đợi Văn Loi về lấy nước như mọi khi, đành quảy gánh xuống suối. Lâu ngày không quen gồng gánh, đêm tối dốc trơn, A Tung bị ngã, chết thảm dưới chân dốc. Văn Loi ôm lấy vợ kêu khóc thảm thiết, nói ôi A Tung ơi, không có A Tung thì đời Loi còn nghĩa lý gì nữa, nói rồi ôm vợ lao xuống thác, chết tốt. Từ đó dân Vân Kiều bỏ tục gánh nước, chỉ lấy nước bằng ống bương. Truyện này in trong tập Truyện cổ Vân Kiều hẳn hoi, ghi dưới truyện là ghi theo lời kể của cụ này cụ kia, thực  tế  là Mai Văn Tấn bịa ra tất, hi hi.
Anh Bính Văn là họa sĩ, anh bỏ vợ hay bị vợ bỏ chi đó, mình không rõ. Mỗi lần mình hỏi vì sao bỏ vợ, anh làm bộ quan trọng kéo tay mình rỉ tai, nói phải bỏ thôi, nếu không đời tao tuyền sống trong sợ hãi. Mình nói gì mà kinh thế. Anh nói mày chưa vợ con biết cứt gì, kinh lắm. Mình nói anh không nộp đủ thuế à, sao mà sợ thế. Anh trợn mắt lên, nói đâu có, tao nộp cả gốc lẫn lãi vẫn cứ sợ vợ như thường. Có lẽ anh Bính Văn nói thật. Nhiều người cứ bảo đàn ông sợ vợ đa phần vì không nộp đủ thuế cho vợ, chả phải. Một hôm mình nghe ba ông anh, anh Điềm ( Nguyễn Khoa Điềm), anh Tường ( Hoàng Phủ Ngọc Tường), anh Vĩ ( Tô Nhuận Vĩ) ngồi kháo chuyện định kì nộp thuế. Anh Điềm nói tôi đăng báo Dân ( Ba ngày một số), anh Tường nói tôi đăng báoVăn Nghệ ( Bảy ngày một số). Anh Vĩ nói các ông kém thế nhỉ, tôi đăng báoNhân dân (Một ngày một số), ngoài ra còn đăng thêm vài phụ trương nữa. Anh Điềm, anh Tường đều trợn mắt thè lưỡi, gọi anh Vĩ là sư phụ. Nhưng anh Vĩ sợ vợ nhất trong ba anh, giống anh Văn Lợi luôn mồm nói Cúc nhà mình nói thế này, Cúc nhà mình nói thế kia. Ngồi đâu hễ chị Cúc réo một phát là ba chân bốn cẳng vọt về ngay.
 Phòng mình hồi đó vợ anh Dương Toàn Thắng đẹp nhất. Chị Hải đẹp nhất trường Đại học Ngoại Ngữ, về làm việc ở Ủy ban tỉnh Bình Trị Thiên được một tuần cả thành phố Huế đều nức tiếng chị. Mỗi lần anh đem vợ về quê, anh cũng là dân Ba Đồn, con nít chạy rật rật cả đoàn sau lưng chị. Người ta bảo ồn như chợ, thế mà mỗi lần chị Hải xách làn vào chợ, đi tới đâu là ở đó bỗng lặng ngắt, ai nấy mắt tròn mắt dẹt, thì thà thì thầm, y chang thấy hoàng hậu vi hành. Mình thuộc loại con nít không dám tơ tưởng, anh Văn Lợi trưởng phòng tốn cả trăm bài thơ tình về biển ( Hải là biển mà) chẳng được cái xơ múi gì, anh Thu Bồn cả tháng mưa Huế đứng trước cửa sổ nhà chị cũng không hề được chị để mắt tới, cuối cùng đành để lại bài thơ Tạm biệt Huế, bài này rất nổi tiếng, con gái Huế thuộc làu “ Tạm biệt Huế với anh là vĩnh biệt/ anh trở về hóa đá phía bên kia”.
 Nghe tin Thu Bồn về Đà Nẵng, anh Thắng sướng lắm, nói lão Thu Bồn về Đà Nẵng tao nhẹ cả người, bây giờ tao mới yên tâm hóa đá ở trong bia, khe khe khe. Anh Thắng kéo mình đi nhậu, nói chúng nó bảo Văn Lợi là hội trưởng hội sợ vợ, sai bét, tao mới là hội trưởng. Mình nói em thấy chị Hải hiền thế, sợ gì nhỉ. Anh kéo  tay mình chỉ về ông phó chủ tịch tỉnh đang ngồi nhậu ở gốc xa, nói mày biết ông đó không. Mình cười, nói lạ gì, ông đó tán chị Hải suốt hai nhiệm kì không đổ, đúng không. Anh Thắng gật đầu cái rụp, nói ông ấy còn sợ vợ tao, tại sao tao không sợ.
Uống bia say nhừ tử, mình hỏi anh Thắng, nói trong phòng mình chắc chỉ có anh Hải Bằng là không sợ vợ thôi, anh nhỉ. Em thấy Hải Bằng hơi bị gia trưởng, chưa thấy Hải Bằng sợ ai bao giờ, đến bí thư tỉnh ủy mà Hải Bằng còn dám to tiếng giữa hội nghị, chắc ổng thuộc diện vợ sợ chứ không phải sợ vợ. Anh Thắng cười cái hậc, nói mày biết đéo gì. Hải Bằng sợ vợ thảm lắm. Mình hỏi sao, anh Thắng nói Hải Bằng sợ vợ hiếp. Mình cười rũ, nói phét phét. Anh Thắng lại trợn mắt lên, nói tao phét mày làm gì. Hải Bằng già cả ốm yếu, bà vợ thì xinh đẹp trẻ trung như thế, sợ là phải. Một tối đang tán chuyện với tao, nghe tiếng vợ đi xem phim về ngoài ngõ là ổng vọt lên giường đặp chăn rên ầm ầm. Hải Bằng chuyên môn trốn thuế kiểu đó, có thảm không.
 Mình cười phun cả bia. Anh Thắng không cười, anh tu cạn ly bia rồi túc tắc đọc như đọc kinh thánh, nói  kính vợ đắc thọ/Sợ vợ sống lâu / Nể vợ bớt ưu sầu / Để vợ lên đầu, là trường sinh bất tử …Thế mà anh Thắng không trường sinh bất tử, anh mất năm 42 tuổi, để lại hai đứa con gái và người vợ xinh đẹp tuyệt trần, tha hương tận trời tây.
         

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2011

CHUYỆN MƯỜI NĂM TRƯỚC

Boric Kornilov
(Người dịch: chưa rõ)

Chỉ có một lần thôi,
Em hỏi anh im lặng,
Thế mà em hờn giận,
Để chúng mình xa nhau.

Biết đi đâu về đâu,
Con thuyền không bến đợi?
Ôi cây xanh tình đời,
Có nghe lòng ta gọi?

Những mùa xuân đã qua,
Tiếng ve về thổn thức,
Gió thổi vào đêm hè,
Kể chuyện mười năm trước.

Chỉ có một lần thôi,
Em hỏi anh im lặng,
Thế mà em hờn giận,
Để chúng mình xa nhau.

Nơi tình yêu bắt đầu,
Cũng là điều khó nhất !
Trái tim dù biết hát,
Nhưng tình đời dễ đâu !

Những đôi lứa yêu nhau,
Có nghe tôi kể lại,
Chỉ một lần trót dại,
Thế mà thành chia phôi.

Chỉ có một lần thôi,
Em hỏi, anh im lặng...

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

TƯƠNG TƯ


Nửa đời
mắc phải tương tư

Không gặp thì nhớ
gặp ư?
thẹn thùng

Ông trời
sao vẫn dửng dưng?

Thương…thì chưa tới
ngại ngùng… đường xa

Nhớ!
mà chẳng dám nói ra

Vu vơ
hờn giận
như là… đang yêu

Vào ngơ
ra ngẩn
mỗi chiều

Muốn hò hẹn
muốn thử liều
một phen

Đêm về đêm
mãi gọi tên

Tiếng ai
vạc cả một miền
xanh rêu

Mây chiều
vương bóng núi chiều

Hồng Hà
đỏ lặng
lắng nhiều phù sa

Ước gì
lạnh lại tháng ba

Để em
đan áo thêu hoa tặng người

Trang thơ
dang dở giữa đời

Tương tư
còn đó nửa vời…
tương tư.

Nguyễn Thị Thanh Long
( Mình st và gửi cho một người cùng khóa đang ‘’tương tư’’ và cũng gửi cho những ai có cùng tâm trạng như người ấy)

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2011

Thơ tình về Hà Nội

Yêu Hà Nội



Tác giả: Thái Thăng Long

Ta mơ thấy em ở nơi kia xa lắm
Có một Hà Nội ngây ngất nắng
Có một Hà Nội run run heo may
Có một Hà Nội hoa đào tươi hồng rạng rỡ
Có một Hà Nội ngàn năm dấu ngựa
Có một Hà Nội Bích Câu, Quốc Tử Giám… thiêng liêng
Có một Hà Nội lặng lẽ chiều Tây Hồ sương khói
Có một Hà Nội lá sấu rắc vàng đường Điện Biên
Có một Hà Nội vắng em
Vắng em bên anh tinh quái
Có một Hà Nội lạnh giá đường Giảng Võ
Có một Hà Nội làng hoa Ngọc Hà và em đứng đó
Chầm chậm trở về trong mỗi giấc mơ
Chầm chậm đến với những câu thơ
Chầm chậm đời mình cho ngày xuân tới
Và anh
Tình yêu Hà Nội lại theo về…

Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành nhạc phẩm Mơ về nơi xa lắm.
Dưới đây là phiên bản do Thanh Lam trình bày.







Cột cờ thành Hoàng Diệu






Hà Nội



Tác giả: Thanh Tùng




Hà Nội ơi, tôi đã cất giữ người cẩn thận
Như dưới làn da kia dẫu đã héo nhàu, máu vẫn âm thầm chảy
Hà Nội ơi, nguồn mộng mơ dày như cỏ mùa xuân
Mỗi khi tôi thấy mình xơ xác
Tôi lại về đánh cắp
Dẫu một chút bóng đêm trên đường phố Khâm Thiên
Dẫu một mảnh lá vàng còn ướt nước Hồ Gươm
Tôi rung lên mỗi khi chạm bóng cửa ô
Như được chạm vào vai gầy áo mẹ
Tôi bé nhỏ và tôi vẫn thế
Trái tim luôn xao động
Như bên trong vẫn đầy ắp sóng Hồ Tây
Vội vã trở về, vội vã ra đi
Chẳng kịp nhận ra từng con phố
Nhưng trong tôi vững bền đến thế
Những chiếc lá nhìn tôi vẫn mắt tuổi học trò
Những vòm cổ nghiêng xuống tôi hơi ấm
Thầm thì lời của rêu phong
Sâu đến nỗi bàng hoàng lạc tới ngàn năm
Những chiều thu hăm hở tôi đi
Hồn đánh võng với hơi giăng thấp thoáng
Từ gốc cây già đến mặt hồ sương
Từ ngàn xưa đến tận hôm nay
Quán ngập lá và mắt em đen thế
Rượu không say, chỉ đủ để buồn thôi!
Tôi vẫn về Hà Nội của tôi
Sau những ngày dài khô khốc
Để thẩn thờ uống từng vết nắng mưa
Chạy mệt nhoài trên những quảng trường sạm gió
Mỗi lần ra đi
Nặng nề như có chửa
Và vội vàng của một kẻ tham lam
Vì bất cứ vòm cây nào trên những đại lộ
Cũng có thể đòi tôi trả lại màu xanh!



Bài thơ này đã được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc thành nhạc phẩm Hà Nội ngày trở về.
Dưới đây là phiên bản do Quang Lý trình bày.












Tuy không còn "Thanh niên" nữa nhưng "Ngàn năm đã dễ mấy ai quên"


TH st.
(Xin lỗi các bạn vừa rồi do lỗi kỹ thuật nên mới tá hỏa như vậy)

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2011

Thơ tình tiền chiến



Núi Đôi


Tác giả: Vũ Cao


Tháng Hai4

Bảy năm về trước, em mười bảy
Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng
Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa
Bữa thì em tới, bữa anh sang

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi
Em vẫn đùa anh: sao khéo thế
Núi chồng núi vợ đứng song đôi!

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngơ chùa cháy đỏ những thân cau
Mới ngỏ lời thôi, đành lỗi hẹn
Đâu ngờ từ đó bặt tin nhau.

Anh vào bộ đội, lên Đông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mấy bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục, núi Đôi chăng?

Anh nghĩ, quê ta giặc chiếm rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
Mỗi tin súng nổ vành đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người.

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ trông
Núi Đôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông?

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Anh ghé thăm nhà, thăm núi Đôi.

Mới tới đầu ao, tin sét đánh
Giặt giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thửa
Em sống trung thành, chết thủy chung!

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông bờ có con đường quen.
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em!

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo:
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong;
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng?

Từ núi qua thôn, đường nghẽn lối
Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao, nhà đổ cháy
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay

Cha mẹ đưa nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương nắng khuây dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ:
Ta gắng: mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu!

Nhưng núi còn kia, anh vẫn nhớ.
Oán thù còn đó, anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Đã chết vì dân giữa đất này!

Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi em:đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

TH st.
(Thân tặng Bàng, Song Ngọc và nhóm bạn K22 nhân dịp các bạn đi thăm núi Tản)