Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên khảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chuyên khảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 18 tháng 1, 2020

“NHÀ VĂN VIỆT-NAM HẢI NGOẠI
– Nhận định về 73 tác giả”
(Trích)



Đỗ Quyên tên thật Đỗ Ngọc Thủy, sinh năm 1955 tại Hà Nội. Giảng dạy đại học ở Hà-Nội, 1988 sang Nga tu nghiệp và ở lại, cuối cùng định cư ở Canada từ 1996. Sáng tác thơ, truyện, phê bình, khảo cứu; đồng sáng lập và chủ biên một số báo chí, diễn đàn; cộng tác với nhiều tạp chí văn nghệ Việt hải ngoại và nhiều báo chí trong nước.
Tác phẩm đã xuất-bản: Nhìn Cây Thấy Rừng (Phỏng vấn chuyện nước non; Westminster CA: Văn Nghệ, 1997) – Thơ kể – Poetry Narrates (NXB Lao Động- Hà Nội 2010 & Nxb Tân hình thức, California 2010) – Lòng Hải Lý (Trường ca; Hà Nội: Hội Nhà văn, 2011) – Trung-Việt Việt-Trung (“tiểu-thuyết thời sự”; Westminster CA: Người Việt Books, 2016) – Trường ca Việt Nam: tác giả và tác phẩm (Tài liệu tham khảo; Hà Nội: Hội Nhà văn, 2017) – Đẻ Sách (“tiểu thuyết châm biếm”; Westminster CA: Người Việt Books, 2018).




*
Văn chương hải ngoại đã có những tìm kiếm hình thức, một số nỗ lực đổi mới thi ca và thể-loại tiểu-thuyết, v.v. Thoạt nhìn và nhất là qua các ấn phẩm chúng tôi có được, tính văn-học hoặc giá trị “sống còn” dĩ nhiên là khả dĩ, nhưng cho ai và tới thời nào thì chỉ có thời-gian mới có thể trả lời. Về thi-ca cũng như tiểu-thuyết, nhà văn nhà thơ phải luôn cách tân, tìm tòi, nếu không, sẽ rơi vào sáo mòn của truyện kể hoặc ca-dao. Văn xuôi thì có trường hợp Đỗ Quyên với hai tiểu-thuyết Trung Việt-Việt Trung “tiểu-thuyết thời sự” và Đẻ Sách “tiểu thuyết châm biếm”.
Trung-Việt Việt-Trung được tác giả chú là “tiểu-thuyết thời sự” viết về quan hệ căng thẳng hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc và sự bất lực của người trí thức trước tình thế, khởi từ biến cố giàn khoan 981 từ tháng 5 năm 2014. Hình thức gồm thông tin thời sự, phóng sự tưởng tượng, tường thuật báo chí và truyện kể. Nhìn chung, Trung-Việt Việt-Trung như một đề cao cảnh giác, hoặc như một tiếng kêu thương cho tương lai và dân tộc.
Đẻ Sách với tiểu tựa “tiểu-thuyết châm biếm”, tác giả cho biết là “cuốn truyện đầu lòng” sau các tập thơ và “tiểu-thuyết thời sự” đã xuất bản. Ý chính nếu nói ngay là chuyện “người ăn thịt người đẻ sách” thì khó hiểu, khó hình dung, tưởng tượng, nhưng nếu độc giả sẵn sàng nhập cuộc sanh đẻ thì có thể phong cho tác giả là một “chiến sĩ văn hóa”… dũng cảm nhờ đa ngôn lênh láng, thuần lý, phi lý, vô lý và lắm lời khiêu khích, châm biếm.
Chương Mở “Thai phu” như một món khai vị cho những món chính có thể… khó nuốt đến sau. Chương này kể chuyện đi… phá thai của nhân vật có cái dương vật “chút núi non da thịt gọn ghẽ … không muốn đưa ra ánh sáng những giấc mơ thai phu”. Nhân vật “tôi” thích thú và quen ăn món “nhau bà đẻ”,“bởi miệng hợp vị thôi chứ không hẳn vì nghe người lớn xui dụ ăn nhau bổ máu. Tin tôi đi, nhờ chịu được chất bổ kỳ dị đó tôi sớm hiểu biết và từng trải nhất nhà, tới nay đã thành nhà văn” (tr. 13). Ăn nhau nhiều nên bị thai đòi nợ phải trả chăng?
Chương 1 “Tim của ai cũng được”, nhà-văn-tim – gọi thế vì y “ăn tim” nghĩa là lấy cảm tình người ta để có thể đi sâu, moi móc, khai thác chất liệu đời tư và tầng sâu tư tưởng. “Nhà văn ăn tim cho biết những trái tim của ai cũng được. Ông không câu nệ giới tính, nghề nghiệp, sắc tộc, tuổi tác… Mà chọn theo gu của ông. Cần nhất nó phải tươi, còn thoi thóp co bóp thì tuyệt. Thế thôi. Đương nhiên phải là tim của chính những người tôi muốn…”. Như “tim của ngài Stewart thì làm nhiệm vụ thợ cày cho một tiểu thuyết gia: tìm chi tiết, kiếm nhân vật, rồi theo thế mà viết. Sòn sòn là đô sòn! Mỗi ngày cứ việc đẻ ra năm, bảy trang, ví dụ vậy. Ừ, mỗi cô dâu – nhất là các cô dâu da màu và lai – tận tụy hóa thân trong cơ thể nhà văn của chúng ta để tái sinh nơi trang sách. Họ làm vậy đâu chiều lòng nhà văn, hay muốn dự phần vào kho tàng nhân vật tiểu thuyết của nhân loại” (tr. 19, 31).
“Tôi” rồi cũng có nhận xét về ăn-tim: “Những người viết ăn tim người đẻ ra sách văn học không nhiều bằng các loại người viết tương tự khác. Thoạt tiên, cứ tưởng có thể suy luận giản đơn rằng công việc văn chương chủ yếu xuất phát từ con tim, nên cần tim hơn; số lượng nhà văn ăn tim sẽ nhiều hơn. Nếu thế hai với hai đã thành năm từ thời Pythagoras! Thực tế ngược lại. Trong cái làng văn ăn thịt người đẻ sách, có phải cứ muốn ăn tim là ăn được, muốn không ăn tóc thì không ăn đâu! Hoặc đó là cái nghiệp mạng; hoặc đó là sự khó hiểu đáng nể của giới cầm bút” (tr. 36).
Chương 2 “Theo chân những người tỵ nạn”: bà luật sư “ăn chân” – ăn chân người tỵ nạn, tức ăn-theo hồ sơ của những người di dân, lao động. Còn David O’Donovan (danh tính gợi tên tác giả ĐQ), ông nhà văn ăn-tim, bỏ viết và hành nghề nhà báo chuyên làm phỏng vấn. Ông ta và bà luật sư di trú thay nhau châm biếm dân tỵ nạn, giới làm báo viết văn ở hải ngoại, giới phê bình văn học, vài lãnh tụ, rồi vài biến cố lịch sử. Đặc biệt làng báo, làng văn và giới phỏng vấn, phê bình văn học ở hải ngoại, được chiếu cố tận tình. Nguyễn Hưng Nước: “… Nguyễn Hưng Nước. Nước. Hồi nhỏ, thằng cu Nước. Thế thôi. Thế mà các bác trong nước tệ bạc quá, đi xuyên tạc tên chân chất của con cái người ta thế này: Nước tức là Quốc. Hưng Quốc là Phục Quốc! Thôi, trôi đời con mẹ hàng lươn! Từ chuyện khai thông dẫn nước nhà nông về cày cấy ruộng đồng mà chính Phạm Thủ tướng tiên phong bổ nhát cuốc đã bị hóa thành chuyện chính trị phản động lật đổ! … Thế nhưng bác này cầm tinh con đỉa hay sao ấy mà bị các bác trong nước thù dai. Trước kịch bản ‘Luận về Cặc’, Hollywood có đặt bài làm phim nhi đồng, bác Nước bèn chọn con cóc làm nhân vật, lấy lời thơ con cóc nhảy ra con cóc nhảy vào làm nền ý tưởng. Khẩu khí rất nhà quê. Bọn tỵ nạn chúng tôi và cả cánh thuyền nhân đọc, vui lắm! Kịch bản không tục tằn. (Cóc thì xếch-xi cái cóc gì!). Thế nhưng không hiểu sao Nguyễn Hưng Nước bị trong nước đặt hỗn danh ‘nhà văn Cóc’. Rồi sang ‘nhà văn Cặc’. Thì cũng vui thôi. Dân làm báo làm văn cứ thế mà réo tên ‘ông Cặc Cóc’. Chính khổ chủ cũng vui! … Hồi kết mới thật là vui ra nước… miếng! Chuyện hay thế đời nào anh ngủ gật. Nghe đây: Tại phi trường Tân Sơn Nhất, khi bác Hưng Nước theo nhóm làm phim Hollywood về Việt Nam công cán, mọi người khác Mỹ, Việt, Tây, Tàu, Ấn, Mễ vào êm ru, riêng bác lại không được vào…”. Lý do: “… trở lại với Cặc của chú, í lộn, Cặc trong file của chú: Chữ này ở dạng báo động xanh. Anh thiếu tá trưởng phòng chúng con có thể để chú qua cửa khẩu với đơn cam kết. Còn chữ Cóc bị báo động đỏ, chú ơi. Thượng cấp có quân hàm cao đến mấy tới can thiệp, software cũng sẽ không nhân nhượng. Trừ khi Liên Bộ An ninh và Tin học ngồi xuống làm lại hệ thống báo động với software mới. Bi giờ chú mà lọt qua cửa mình con, vâng ý là cửa khẩu một mình con ngồi đây, máy móc sẽ kêu toáng cả lên… Dạ xin chớ nóng tánh. Chú bảo giùm các anh chị và các bạn Mỹ ở ngoài cứ bình tĩnh. Không hạn hán làm sao có cóc! Cái gì cũng mang lý do của nó. Chúng con được phép giải thích như sau: Chữ Cóc là taboo vì liên đới tới cụ Nguyễn Hữu Đã. Chú làm văn nghệ, không thể không biết vấn đề đã xảy ra với cụ Đã. Thôi nha, bái bai! Mời chú ra phòng ngoài để làm thủ tục quay lại Mỹ trong chuyến sớm nhất. Con cảm phiền, phải làm việc tiếp… Next, please…” (tr. 115, 117). Cũng như vài nhà phỏng vấn “đương đại hải ngoại” đồng nghiệp (dư) khác. Cũng như chủ nghĩa cộng sản được phê phán một cách “bác học” qua một nhân vật nữ chuyên “đánh” và “đụ” khác: “Với linh cảm của người nữ chiến binh từng trải qua chiến trường ác liệt và có khao khát tình ái – tất nhiên cả tình dục – chị cho rằng, chủ nghĩa cộng sản là một người đàn ông tuyệt tốt đẹp nhưng không mang khả năng sinh đẻ, một sĩ quan được huấn luyện cừ khôi mà không có năng lực chiến trường bom lửa. Đấy như một người tình trăm năm lý tưởng, một sĩ quan tham mưu sa bàn văn phòng… Kế đến, về cái thắc mắc sốt ruột rất dễ thương và đáng trách của em Hoài Nam. Này nghe đây, chị bảo cho mà biết: Em ăn gì mà em chậm hiểu vậy? Ghét tức là Đánh, là chiến tranh, là diệt nội (chiến), là chống ngoại (xâm). Trước khi qua đây xuất khẩu lao động, ở miền Nam em học lịch sử được mấy điểm, trường nào lớp nào, thầy cô nào dạy? Yêu là cái ‘vụ ấy’ đấy. Qua Bun mấy năm rồi sao Hoài Nam của chị vẫn hiền như ma sơ thế ư? Ồ, cho chị nói thẳng như người Nam của em là đụ mới hay. Gọi con mèo là con mèo sẽ ra bản chất. Ngôn ngữ lúc này trở thành sự vật…” (tr. 105). Chương này qua nhân vật bà luật sư di trú Tabitha McAmmond, tác giả đã bàn/nói đủ chuyện đông-tây, kim cổ, chuyện người và nhất là chuyện ta – ta là ông Đỗ Quyên. Từ văn hóa cụ thể đến văn hoa trừu tượng. Từ chuyện mặc cảm “đầu gối củ lạc” – đầu gối người Việt có tính tình dục” (tr. 144+), “học … đéo’” (tr. 95+) vì “dù di dân sang xứ Đức rồi, vẫn coi chuyện làm tình là nhậy cảm. ‘Lói ra ló cứ nàm thao ấy!’”, cho đến việc đụng chạm … phụ nữ (“Xe hơi là thứ đàn bà không biết mệt trong cuộc làm tình với đàn ông của hai thế kỷ 20 và 21. Nó lấy đi không chỉ tiền bạc, sức lực là hai thứ đàn ông làm chủ. “Mụ đàn bà hồi xuân” – các giấc mơ xe hơi – làm tiêu hủy rất nhiều nhân tài khi mà sự đam mê của họ bị chia trí. Còn các tôn giáo, nhất là đạo phái. Thì cũng là đàn bà. Tôn giáo là loại đàn bà lưỡng tính. Nó hấp dẫn phụ nữ vô cùng nhanh chóng, bởi cùng là đàn bà. Nó thu phục đàn ông dễ dàng như chuyện trai gái ngoài đời”; tr. 65-6)
Phải nể ông Đỗ Quyên vì chương 2 dài nhất và cũng nhất về “c.” cũng như về “đ’.” của dân Bắc tức “đụ” trong Nam; ông “kiểm duyệt” (hoặc … kị!) lời ăn tiếng nói của nhân vật miền Bắc, còn dân Nam thì “có sao nói vậy người ơi”!
Chương 3 “Diễn đàn tóc” với nhà viết kịch ăn-tóc. “Ăn tóc” lâu hơn “ăn chân”, vì khó tiêu hóa! Đó cũng là thảm họa của giới nhà văn và cả Văn bút thế giới PEN (!): “tất cả các ông bà văn sĩ đều thủ dâm dưới mọi hình thức khi hành nghề. Chúng tôi còn hay tin đồn thổi thậm chí có trường phái cho rằng bản thân việc viết đã là hành động thủ dâm suy tư, ý tưởng bằng ngôn ngữ, chữ viết” (tr. 158). Nhà viết kịch “ăn tóc để hành văn, xơi tái các ngón tay chỉ để thỏa mãn dục vọng. Kể cũng tội cái nghiệp văn ăn thịt đồng loại ở Nhà viết kịch Ăn-tóc của chúng ta”, phải chăng vì “Kịch luôn có đĩ tính là xung đột. Không đĩ tính xung đột, không thành kịch; người ta quen nói là kịch tính. Mà thuật ngữ sinh tử này của ngành kịch nghệ được dùng trong xã hội, cuộc sống phổ biến tới mức người đời coi phép so sánh “Thiên địa đại hí trường, hí trường tiểu thiên địa” như định luật tương hỗ đời và kịch…. Có lẽ để tránh cho đám cập kê bọn teen khỏi bị sốc và cũng ngại đối diện các nữ quyền gia, người ta bèn gọi đĩ tính của kịch là kịch tính. Khỏe!”. Thi ca qua “nhà thơ Tự-ăn-tóc” và phê bình văn học cũng được “chăm sóc” tận tình!
Chương 4 “Người từ lòng bàn tay mà ra” thêm một lần “ăn” lý luận phê bình văn học vì có thể để “đẻ sách”. Từ những câu có vẻ tầm thường được giới lý luận phê bình chiếu cố, như câu thơ “Bàn tay ta làm nên tất cả” rồi đi sang vấn đề “Mút”. Và lan sang cả chuyện tịnh phái: “Có cặp đôi Đông-Tây gặp nhau về căn bản nội dung, tuy hình thức khác nhau, thậm chí trái ngược nhau: Nam-Nữ. Một mâu thuẫn nhị nguyên giằng xé nhất và nhân bản nhất con người vừa chịu đựng vừa hân hưởng. Nữ quyền, Đồng tính luyến ái chính là hai đứa con – một đứa nam, một đứa nữ – được ra đời khi xung đột Nam-Nữ vụt nảy sinh và cọ xát kịch liệt. Công cuộc lựa chọn bản thân là đàn ông hay đàn bà, thực ra, mang tính chất sinh tử nhưng rất ôn hòa, và nó không hề giản đơn như bộ môn giới tính ở các đại học vẫn rao giảng. Sự giằng xé làm búa (Nam) hay làm đe (Nữ) thường được thực hiện trong giấc mơ. Lucien Morgan cho rằng, ngay ở những người “thẳng” trong sinh lý chỉ thuộc về một trong hai đối tượng, nhưng về tâm lý thì… cong queo: không thuộc về búa cũng chả là đe. Mà kết hợp cả hai; và một trong hai đối tượng búa-đe vượt trội lên. Điều thú vị, sự tương đồng giữa búa-đe lại khống chế được sự khác biệt. Dích dắc ở chỗ nếu ai có tâm lý trưởng thành về giới tính sẽ tự phân biệt được sự giống nhau và khác nhau của đe và búa” (tr. 209).
Chương 5 “Độc giả ăn tác giả” hay “người-ăn-theo-tác-giả”, chuyển tải thư của độc giả hoặc Đỗ Quyên đứng (giả và thực!?) về phía độc giả để phê bình nhiều “nhà” trong tương quan xa gần với cuốn Đẻ Sách: “Đẻ Sách mới là cái bàn đẻ cho độc giả vào đẻ chung!”(tr. 272).
Chương kết “Tuyên ngôn của Chủ Nghĩa Ăn Thịt Người Đẻ Sách” như một hệ thống hóa lý thuyết về sáng tác, làm báo, làm văn mà tác giả đã gần 10 năm suy nghĩ!
Toàn tập tiểu thuyết tả chân theo trường phái hiện thực thổ tả, bên cạnh những lối bóng gió, ẩn dụ, châm biếm, và lý lẽ trí thức đậm đà; tất cả liên tục tiếp nối nhau như một liên-văn-bản. Truyện còn cho thấy tác giả có khả năng tự trào đáng kể. Nhờ bản thân đã sinh sống ở nhiều Châu (hình như ông chưa sống ở Phi châu?), nên kinh nghiệm cộng đồng, văn nghệ hơn người và làm văn học trong-ngoài đầy đủ nên ông đã có nhiều nhận xét, quan sát hiện thực đởi và hiện thực giới chữ nghĩa và xuất bản, báo chí cũng như sinh hoại của các chủ nghĩa, lý thuyết. Nói một cách khác, Đẻ Sách đã như một toàn tập tiểu sử và sự nghiệp đời làm văn và làm báo cùng du lịch của ông Đỗ Quyên. Tuy “đại truyện” và có vẻ toàn cầu nhưng hơi tiếc là ông thiên về các sinh hoạt và nhân sự trong nước “hôm nay”, có thể vì đó vốn là nơi ông xuất thân và vẫn đi về. Các trích dẫn sách báo trong ngoài nước, internet và cả các tác phẩm, công trình của chính ông như phỏng vấn Đến Rừng Từ Cây, như tham khảo, nói giùm, lý giải mà cũng như thuyết phục người đọc rằng “ăn” và “đẻ” là ok, là chín chắn!
Đọc Đỗ Quyên không dễ; ông làm khó người đọc. Không dễ theo dõi, cần có kiến thức văn hóa, lịch sử… Thơ văn Đỗ Quyên vẫn được biết tới như những trò đùa chữ nghĩa – đùa nhưng con chữ và ý nặng nề; nay với Đẻ Sách, đặc tính này xem như đã đạt cao điểm. Một công trình đã xong, đã đóng nhưng vẫn mang tính hậu-hiện-đại mời gọi, khiêu khích và mở – tác giả vẫn để chỗ cho độc giả can thiệp tùy nghi. Đẻ Sách mang đồng tính “hôm nay” và “hiện sinh” có trách nhiệm, Đỗ Quyên muốn cải cách sáng tác, chúng tôi nghĩ thành công có phần hạn chế, thiếu người đọc hiểu được trò chơi văn hoa và hình thức thể loại của tác giả. Người đọc sẽ có ấn tượng Đỗ Quyên tự giải tỏa uẩn ức hơn là sáng tác văn chương!
*
Kỹ thuật là bận tâm của các tác-giả và nghệ sĩ, vì người đọc và người thưởng ngoạn nghệ thuật chỉ muốn thưởng thức cái được sáng tạo ra hoặc được viết ra! Như vậy, ngôn-ngữ và kỹ thuật văn-chương trở nên quan trọng, là cái riêng của mỗi tác giả, trong cách kể, cách viết, trong không khí mà tác phẩm tạo nên được! Cùng theo hậu-hiện-đại, nhưng Đỗ Quyên, Lê Thị Thấm Vân, Đặng Thơ Thơ,… mỗi tác giả một vẻ đặc thù riêng. Sức mạnh của bài thơ, bài văn hay tác-phẩm nghệ thuật là ở ý tưởng, mục đích, ở hình ảnh và ở nội dung, sứ điệp được chuyên chở hay nhắm tới. Một tác phẩm thành công theo thiển ý là khi có thể giúp người thưởng ngoạn hiểu biết, yêu mến và thực thi được những lý tưởng Chân Thiện Mỹ trong cuộc đời. Nhưng trước khi viết hay sáng tác, văn nghệ sĩ nên biết mình là ai, việc đó tùy thuộc vào việc nhận diện thực-thể, nội dung nền tảng là cái luôn hiện đại hóa, cập nhật hóa. Cơ cấu xã hội, văn hóa luôn sinh hóa, tiến tới phía trước để sống còn, trường tồn, vượt qua được những bế tắc và vấn đề trực diện. Nhà làm văn-nghệ cũng không thoát ra được vòng vây hiện-đại đó. Viết và làm nghệ thuật, là sống cuộc sống hiện thực, dù ở hải-ngoại hay trong nước, hôm nay và sau này! Viết là một biểu hiện cụ thể cái sống sinh động, biểu hiện của cuộc đi tìm ý nghĩa cho cuộc sống con người, cũng là cuộc tìm kiếm Chân Thiện Mỹ – như một sứ mạng. Sống như một người Việt hiện đại, hôm nay và như một người có văn hóa. Sống và truyền đạt lại cho đời những rung động, tình càm, tư tưởng xuôi cùng chiều với chân lý của đời sống hoặc đáp ứng, phản hồi lại thực tại và con người: có thể kết luận đó chính là sứ mệnh của nhà văn Việt-Nam hiện nay!
Nhà văn thường viết vì nhu cầu… viết hoặc vì một mục đích nhưng ít thấy vì sứ mạng thực sự văn nghệ. Đỗ Quyên cũng có vẻ để ý nhưng đến trang cuối của Đẻ Sách, ông vẫn như chưa thuyết phục được sứ mạng của ông. Văn-chương chết vì ngoài những ám ảnh, vũng lầy còn là vì văn hóa chết, tinh thần chết, nhường chỗ cho vật chất và tính toán, tham vọng của con người. Mà văn-chương chết sẽ đưa đến kiệt quệ tinh thần!
Vậy thì văn-chương có còn là thứ cần thiết không và cần thiết cho ai? Văn-chương có giá trị hay có thể hiện hữu tự tại không? Nhìn thị trường chữ nghĩa gần đây, nhiều người thấy văn-chương đã tự thu hẹp lại, chỉ còn là lịch-sử, là hồi ký, là đời tư, là tự thú cá nhân nếu không là văn nghệ kiểu karaoke và báo chợ: hồi ký, bút ký, du ký và những sản phẩm tầm phào đã giết sáng tạo và thưởng thức văn-chương. Thiển nghĩa nếu văn chương được quan niệm như là ý thức về hiện hữu và tồn tại, thì vấn đề bớt nặng nề. Văn-chương là mặt nổi của thực hữu, viết ra được tức cũng tỏ ra có được sức mạnh và có hành động, ra tay vì dù là sản phẩm tinh thần nhưng không thể tách nó ra khỏi đời sống thực hữu.
Ai cũng biết trong văn-chương, kỹ thuật, ngôn-ngữ khá quan trọng, bên cạnh nội dung, làm nên văn-chương. Ngôn ngữ thoát khỏi quy ước và tinh thần để tự do, canh tân, thì sẽ đạt đến một phạm trù khác của tư tưởng. Về phần tiểu-thuyết, người viết đến với thể loại tưởng là dễ này còn phải nắm vững kỹ thuật kết cấu và điều quan trọng là tác-giả còn cần có giọng văn riêng, có phong cách diễn ngôn đặc thù. Có người viết theo lối viết tiểu thuyết của Mỹ, Pháp, la-tinh hay đề cao kỹ thuật nay có vẻ cần thiết hơn nội dung của tiểu thuyết, v.v. Có người dùng một câu chuyện để ngụ ý, nhắn nhủ hoặc bất kể người đồng thời vì nhắm viết cho con người thời sau hay ở một không gian khác, v.v. Hậu hiện đại sáng tạo không chỉ giới hạn ở nội dung, mà cả ở cấu trúc, không khí riêng chung. Vẫn bám thể loại tiểu thuyết – qua sáng tác và lý luận – dù phúng thích, hoài nghi, thiển nghĩ vẫn có thể gọi Đẻ Sách là một hình thức “tiểu thuyết”.
Người viết và người đọc có thể là đôi bạn song hành (và cả đi ngược chiều), nhưng người viết có vai trò bước những bước khởi đầu. Có thể mỗi nhà văn có một số độc giả riêng của mình. Họ thường cùng đi chung với nhau trên từng chặng đường, có khi thích thú gặp gỡ nhau vì một tình tiết, một lời nói. Trong đủ đề tài từ chiến tranh, cách mạng, xã hội, lịch sử, đến những thay đổi của con người và tập thể.
Trước khi viết tiểu thuyết và làm thơ, Đỗ Quyên đã thực hiện “18 phỏng vấn chuyện nước non Việt tại hải-ngoại” (NCTR), với vài tai mắt cộng đồng, chính-trị và vài nhà báo nhà văn ở hải-ngoại đã thêm một lần cho thấy có những điểm dị giữa 2 nhóm người quốc-gia của miền Nam và người ra đi từ miền Bắc Việt-Nam về màu cờ, chính-trị, xã-hội, văn-hóa, v.v. nhưng tất cả có một số điểm đồng về đa nguyên chính-trị, quê-hương dân-tộc và ước nguyện tương lai – bởi đa phần người Việt sống thân phận xa quê-hương trong hoàn cảnh bi đát của đất nước, đều luôn tự vấn “tôi là ai?” và “dân-tộc Việt của tôi là ai?” như chính người phỏng vấn.
Đỗ Quyên tin tưởng và kỳ vọng nơi tương lai của văn chương, và với thiện chí, hy vọng họ Đỗ sẽ tiếp tục con đường ngoạn mục của văn học và báo chí.
Trích “NHÀ VĂN VIỆT-NAM HẢI NGOẠI – Nhận định về 73 tác giả”
NXB Nhân Ảnh, San Jose CA – 2020
Nguyễn Vy Khanh

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2019

Nhà thơ Đỗ Quyên: Văn học giúp người Việt
xa xứ vịn đứng lên

VHSG- “Văn hóa tiếng Việt ở ngoài Tổ quốc hình thành từ rất lâu. Còn văn học Việt ở ngoài nước, đặc biệt phần chính là văn học hải ngoại thì chỉ sau 30.4.1975 mới thật sự được coi như một thực thể văn học. Sáng tác văn học của người Việt viết bằng tiếng Việt và một số tiếng ở quốc gia thứ hai đã thực sự làm nơi chốn thiết yếu để khối 4 triệu người Việt ở ngoài nước vịn vào mà đứng lên trong đời xa xứ của mình” – nhà thơ Đỗ Quyên từ Canada tâm sự.





Hải Hà: Thưa nhà thơ Đỗ Quyên, được biết ông có quá trình hoạt động văn chương lâu năm tại các nước châu Âu như Nga, Đức rồi qua Úc, Canada. Ông có thể kể khái quát hiện trạng văn học Việt Nam ở ngoài nước?
– Đỗ Quyên: Trước và trong thời Đổi mới 1986 – 1989 hầu như bạn đọc trong nước không có thông tin là bao. Một số ít bài tổng quan đầu tiên và có giá trị của các tác giả trong nước về văn học Việt ở ngoài nước đã được thực thi bởi Nguyễn Huệ Chi, Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Ngọc Hiến. Và các bài tương tự của các tác giả ở ngoài nước như Võ Phiến, Đặng Tiến, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng… được lan truyền không chính thức ở trong nước mà chủ yếu giữa một số ít nhà nghiên cứu, nhà văn.
So với 2 bài tôi viết trước đây (mời xem chú thích), có 5 điểm khác của văn học Việt ngoài nước trong mươi năm qua:
1) Sự hiểu và sự biết giữa văn giới trong-ngoài Việt Nam mạnh hơn bao giờ hết, về quan hệ, giao tình cũng như trong sáng tác, thông tin. Song riêng về quan hệ, thật tiếc là ở không ít tác giả, báo chí, cơ quan quan trọng của cả trong lẫn ngoài sự hiểu nhau và biết nhau đó không/chưa đưa đến sự chia sẻ, đồng cảm, đồng điệu.
2) Tính phân tán trong sáng tác cao hơn trước về nội dung, nghệ thuật, và về cách phổ biến tác phẩm;
3) Càng rất khó định danh chính xác đâu là đề tài chính của dòng văn học này;
4) Lối thơ Tân hình thức Việt lại “xung” hơn về mặt diễn đàn, xuất bản sách báo, còn chất lượng lại không khá hơn trước. Nhấn mạnh: Thơ Tân hình thức Việt chính là thành quả giao lưu mạnh nhất, đẹp nhất giữa văn chương trong-ngoài mà công đầu thuộc về tạp chí Sông Hương và Báo giấy “Thơ Tân hình thức” qua đại diện là nhà thơ Hồ Đăng Thanh Ngọc (trong) và Khế Iêm (ngoài);
5) Ít có tác phẩm, tác giả tạo sự kiện lớn ở ngoài này lẫn bên nhà như mươi năm trước.
Còn 3 đặc điểm lớn của sinh hoạt văn học Việt ngoài nước từ sau 1975 thì trong 10 năm gần như ít thay đổi:
1) Nguồn gốc: Không kể ở các nước Đông Âu, Liên Xô cũ, đấy là dòng chảy tiếp tục của văn chương miền Nam trước 1975;
2) Mục đích: Giải tỏa trăn trở về thời cuộc, hơn cả là về chính trị (nhất là ở những cây bút từ thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa) và gần đây về bảo toàn lãnh thổ, biển đảo, an toàn môi trường ở Việt Nam. Chính do mục đích viết để “giải tỏa” mà tính co cụm, bè phái của văn học ở ngoài nước phải nói là cao. Phụ thuộc vào chính kiến của từng nhóm.
3) Cảm hứng viết: Ý thức tự do và cá nhân.
Hải HàNhiều người đã nói về sự khác biệt của văn học Việt Nam trong nước và ngoài nước. Tôi lại muốn biết điểm gặp nhau của văn học Việt Nam trong nước và ngoài nước là gì?
– Đỗ Quyên: Câu hỏi hay! Thú thiệt, tôi chưa được đọc ở đâu cách hỏi tương tự. Thưa vâng, theo tôi, có ít nhất 2 điểm chung của 2 dòng văn học ấy.
Một là cùng viết tiếng Việt và tạo ảnh hưởng lớn đến độc giả Việt. Hiển nhiên với văn học trong nước lâu nay, nhưng với văn học ngoài nước điều đó không chỉ là một hình thức hiển nhiên. Văn hóa tiếng Việt ở ngoài Tổ quốc hình thành từ rất lâu. Còn văn học Việt ở ngoài nước, đặc biệt phần chính là văn học hải ngoại thì chỉ sau 30.4.1975 mới thật sự được coi như một thực thể văn học. Sáng tác văn học của người Việt viết bằng tiếng Việt và một số tiếng ở quốc gia thứ hai đã thực sự làm nơi chốn thiết yếu để khối 4 triệu người Việt ở ngoài nước vịn vào mà đứng lên trong đời xa xứ của mình.
Hai là cùng phát triển chậm, chưa xứng với kỳ vọng của độc giả. Các tác giả ở ngoài nước chúng tôi chịu lỗi nhiều.
Hải Hà: Đọc những tác phẩm của các nhà văn xa xứ, luôn có một điểm chung là nỗi nhớ thương hướng về nguồn cội. Ông có thể nói rõ hơn điều này trong các tác phẩm của mình?
– Đỗ Quyên: Vâng, hiếm tác giả nào có bàn viết ở ngoài biên giới lại không sáng tác ít nhiều về cái gọi là tình hoài hương, và cao hơn là hướng về xuất xứ của mình – đó là quê cha đất mẹ, nguồn cội tổ tiên. Tôi còn muốn xem đó chính là hàn thử biểu cho tâm thức văn nghệ sĩ. Và nó cũng là rào cản, nếu văn nghệ sĩ chỉ tối ngày khai thác đề tài này. Một nhà văn xa xứ chỉ trưởng thành sau khi đã biết cách “chùi nước mắt” (cách nói của nhà thơ Đỗ Kh. ở Mỹ), biết hóa nước mắt thành máu nuôi các đề tài khác. Trong thơ tôi có các câu ở “thời kì nước mắt” như: “Anh còn lại một ngày/ Mà Đông phương xa quá/ Ơi Đỗ Quyên mãi là/ Cánh chim buồn không xứ.” (Trường ca Buồn muộn cùng thế kỷ) Hoặc: “Bản đồ Việt Nam trên đầu giường/ Hình Tổ quốc như chiếc đinh giáng xuống” (Trường ca Năm năm lìa nước)
Hải Hà: Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân loại, tất nhiên bao gồm cả văn chương. Ông có thể cho độc giả trong nước biết Internet đã tác động thế nào đến văn học Việt Nam ở ngoài nước.
– Đỗ Quyên: Hồi 1991 ở Đức khi rủ rê chúng bạn lần đầu tiên trong đời mầy mò làm báo tự phát (bằng cách thủ công: đánh máy chữ, bỏ dấu tiếng Việt bằng tay, ghép tranh ảnh, cắt dán từng trang lẻ rồi photocopy, đóng lại thành “báo”) tôi đâu ngờ Internet đã làm khuynh đảo thiên địa bắt đầu từ 1990 cho tới 2000 cũng như về sau…
Thật tình tôi vẫn không thể hiểu vì sao kỹ thuật – công nghệ nó “bay như hỏa tiễn”, trong khi suy nghĩ, sáng tác của mình thì như “cưỡi trâu”. Trước đây có tạp chí – in giấy – Hợp Lưu là một, báo mạng Talawas là hai, tạp chí rồi mạng Tiền Vệ là ba; và mạng Da Màu đang vẫn còn sống bảnh là bốn…
Khác ở một số bộ môn văn nghệ, trong văn học việc sáng tác hay-dở không phụ thuộc vào phương tiện sáng tác. Tôi không thấy Internet đã ảnh hưởng đến chất lượng văn học Việt ở ngoài này. Còn số lượng cũng chưa hẳn đã tăng? Mà có thể giảm, vì sự tan rã của các diễn đàn, báo chí kéo theo giảm hứng thú sáng tác của từng nhà văn. Bản thân tôi vẫn ngờ rằng chất lượng và số lượng tác phẩm của mình  dù có tăng lên nhưng lại không đến từ bàn phím?
Tôi và các đồng nghiệp từ khắp nơi đã cùng các bạn ở trong nước làm được Bàn tròn mạng Diễn đàn Trí thức Việt Nam (2001) và Hội luận Văn học Việt Nam (2008). Tuy là các diễn đàn ngắn hạn nhưng cả hai đã được dư luận ghi nhận là các địa chỉ đầu tiên của văn nghệ sĩ – trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước cùng gặp nhau “trên trời” giữa các vấn đề rộng lớn sát sạt mặt đất của văn chương – văn hóa nước nhà.
Hải Hà: Hiện nay văn học trong nước có 2 quan niệm: một số ủng hộ cái gọi là “xã hội hóa Thơ”, tức là các câu lạc bộ Thơ, hội nhóm Thơ xuất hiện từ thôn, xã, phường… Mà như thế, ai cũng có thể trở thành “nhà thơ” và có thể in sách, tung hô nhau nhiễu loạn. Một số khác lại quan niệm “chuyên nghiệp hóa Thơ”, tức là nhà thơ phải học trong trường lớp chuyên ngành, có sự hướng dẫn kĩ năng từ các nhà thơ tên tuổi đi trước rồi sau đó phải trở thành hội viên của một hội văn chương danh giá thì mới có thể gọi là “Nhà thơ chuyên nghiệp”. Ông có thể cho biết văn học ở một số nước khác có tình trạng này không.
– Đỗ Quyên: Xin có vài ý riêng. Sự giằng co giữa 2 quan niệm tôi thấy không cần thiết và khó có thể san định ai thắng ai. Xã hội và văn chương Việt mình từ xưa tới nay đã bị cái danh làm u mờ cái thực. Đó là gốc của vấn nạn. Thật ra, đâu dễ định nghĩa, định danh “nhà thơ” khi chỉ dùng các hình thức vừa nêu. Một xã hội văn minh, một nền văn học chân chính cần dung hòa để hai cách cùng được tự do thể hiện mình, sao cho “nước sông không phạm nước giếng”.
Tại các nước tôi từng sinh sống, ngay cả ở nước Nga những năm cuối thập niên 1980, dường như không thấy có câu chuyện loạn thơ như thế. Tôi cũng nhận ra, ngay như ở Canada hiện giờ, thơ “chẳng là cái đinh mục gì” trong xã hội đại chúng thường nhật; còn trong vòng hàn lâm, đại học, thư viện… thơ luôn là một trong các đỉnh cao.
Tiêu chí nghệ thuật đầu tiên và cuối cùng của thơ là hay; và cũng cần có sự phân định loại hình giữa thơ đại chúng và thơ chuyên nghiệp.
Tôi muốn được đưa ra cách gọi như sau, thiển nghĩ vừa có lý về nội dung lại có tình về hình thức: Thơ-Văn-Hóa Và Thơ-Văn-Học. Tỷ như, thơ Nguyễn Bảo Sinh không thể gọi là Thơ Văn Học; đó là thơ đại chúng, mang phẩm chất văn hóa cao và là thơ hay. Thơ Đồng Đức Bốn hiển nhiên là Thơ Văn Học và mang nhiều sắc thái đại chúng, văn hóa đến mức xuất thần: “Ối mẹ ơi vỡ đê rồi/ Mộ cha liệu có lên giời được không?”
Góp ý nhỏ: Cách nói “xã hội hóa Thơ” dễ bị hiểu nhầm là kỳ thị Thơ Đại Chúng/Thơ Văn Hóa – một dòng thơ chảy suốt chiều dài lịch sử và văn hóa dân tộc Việt, từ đó sản sinh ra ca dao vốn là một thể loại văn học, một sản phẩm văn hóa có thể không nhiều ngôn ngữ trên thế giới được sở hữu như ở tiếng Việt.
Chẳng thể sùng bái việc đào tạo văn nghệ sĩ, nhất là thi sĩ. Thế nhưng nhà văn, nhà thơ cần qua trường lớp ở bậc đại học hoặc tương đương đã là một thực tế sáng rỡ khó phủ nhận: Liên Xô qua Đại học Viết văn Maxim Gorky; Việt Nam qua Trường Viết văn Nguyễn Du, từ năm 1996 đến nay là Khoa Viết văn – Báo chí Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Tại các nước phương Tây như Anh, Hoa Kỳ, Canada, ở các đại học có khoa học nhân văn thì dễ dàng tìm thấy khoa viết văn (Creative writing); chưa kể các khóa học không định kỳ không chỉ dành cho sinh viên (Literary fiction workshop).
Hải Hà: Ông là một người rất ủng hộ cho trường phái thơ Hậu hiện đại. Theo ông nó có thể trở thành một trào lưu thơ Việt trong tương lai?
– Đỗ Quyên: Hậu hiện đại vốn là chuyện dễ gây tranh cãi, không chỉ trên thế giới từ lâu mà cả ở Việt Nam mươi năm qua. Một “hỏa tiễn” ở ngoài nước về Hậu hiện đại trong thơ trên cả 3 mảng sáng tác, dịch và biên khảo là Ngu Yên cho rằng: “Khó mà phân định chính xác ranh giới thời điểm giữa thời kỳ Hiện đại và thời kỳ Hậu hiện đại. Ngay cả chủ nghĩa Hiện đại chấm dứt lúc nào, chủ nghĩa Hậu hiện đại bắt đầu từ bao giờ, cũng không có câu trả lời đồng thuận giữa các chuyên gia nghiên cứu lịch sử văn học Tây phương.”
Theo tôi thấy, từ các năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000 một lối viết khác lạ tạm gọi là Hậu hiện đại, không chỉ trong thơ, đã trở thành hướng sáng tác mới của văn chương Việt ngoài nước và rất nhanh sau đó là ở Việt Nam. Phải nói là các nhà thơ gốc Việt ở Mỹ như Nguyễn Hoàng Nam, Đỗ Kh., Nguyễn Đăng Thường… cùng các dịch giả, nhà phê bình gốc Việt ở Úc là Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn… đã đi đầu. Dần dần tới một “trào lưu Hậu hiện đại” trong văn học tiếng Việt nói chung, có lẽ khoảng các năm 2007 – 2010 mà mạnh hơn cả là ở Sài Gòn. Bản thân tôi cũng vô thức nhập cuộc lúc nào không hay, qua các trường ca Thơ Thời Gian (2005), Trường ca Thơ Sao (2009), Trường ca Song Sinh (2010); rồi nối tiếp qua 2 cuốn tiểu thuyết Trung-Việt Việt-Trung (2016) và Đẻ Sách (2018).
Để hiểu văn chương Hậu hiện đại đã và đang trở thành một thực thể rất bình thường trong sự bất thường của riêng nó ở Việt Nam, tôi có 3 ví dụ còn nóng:
1: Với tập trường ca Phồn sinh (xuất bản năm 2018 tại Hà Nội) của Nguyễn Linh Khiếu, trong nhiều tháng qua trên báo chí ở trong nước đã công bố chừng 2 tá bài phê bình, nhận định khen ngợi, cổ súy… Là kẻ trong cuộc cả ở trường ca lẫn Hậu hiện đại, nhiều năm trước tôi đã được tác giả cho đọc bản thảo “từ trong trứng”.
2: Bài tiểu luận của Đào Cư Phú mang tên “Sự pha tạp sắc màu ngôn ngữ trong tiểu thuyết Hậu hiện đại” trên Văn Nghệ Quân Đội giữa tháng 11 này, tác giả đã minh họa qua các tác phẩm của nhiều cây bút nổi tiếng trong và ngoài nước là Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Nguyễn Việt Hà và Đặng Thân.
3: Một thi sĩ có tên tuổi làm thơ Hậu hiện đại với vài tác phẩm khá nổi tiếng bên cạnh chút tai tiếng, vừa viết trên FB của mình:“Nghiên cứu về thơ Hậu hiện đại ở Việt Nam rất tiếc là chưa có công trình nào nghiêm túc đáng tin cậy và thực sự khoa học (…)! Đây đó manh mún, khoác lác, viết sai sự thật, bè phái, cánh hẩu và tuyệt nhiên không có một kiến thức gì hiểu biết về Hậu hiện đại! Có những ông đi đâu cũng vỗ ngực Tân hậu hình thức hiện đại mà thực ra không hiểu gì về nó cả! Lại viết bậy bạ tung hô chính mình và đám cánh hẩu nữa! Tội nghiệp!”
Còn một người rất quan tâm chuyện Hậu hiện đại ở xứ ta: nhà thơ, nhà nghiên cứu-phê bình Inrasara cũng nêu ý kiến trên FB một câu nói từ năm 2009: “Nhà văn Hậu hiện đại là kẻ có thể theo dõi các trào lưu triết học mới nhất trên thế giới đồng lúc vẫn cặm cụi đi vào cuộc sống nông thôn lượm nhặt từng dòng ca dao, từng câu tục ngữ hoặc sẵn sàng mở cuộc điều tra nạn trộm cắp gà ngay tại làng mình sống để giúp chính quyền địa phương giải quyết tệ nạn xã hội. Mà không vấn đề gì cả!”
Chàng thi sĩ gốc Chăm ấy còn vừa mở một bàn tròn ở TP.HCM mang tên “Thế nào là nhà văn Hậu hiện đại & Thái độ Hậu hiện đại?”
Hải Hà: Điều cuối cuộc trò chuyện, tôi muốn hỏi: Ông có mong ước gì cho văn học Việt Nam?
– Đỗ Quyên: Theo dõi văn tình tôi thấy các quan tâm tương tự thường tụ lại ở: Bao giờ nước Nam dân Việt mình ẵm giải Nobel văn chương? Cớ sao văn học ta chưa có nhiều tác phẩm xứng tầm thời đại? Mần răng để quảng bá văn học Việt Nam ra quốc tế? Thật lòng, tôi cũng vân vi không dưới ba lần. Thậm chí – cho mở lòng nhé – còn tự cho phép phải có bổn phận với các câu hỏi trên!
Nhưng ngay lúc này, bị hỏi trực tiếp, tôi vụt trở về con người thực tế. Khi chưa với được quả táo trên cành cao thì chú cào cào bò dưới đất cũng là của giời cho: Tôi thực sự mong cho các sáng tác bằng tiếng Việt ở khắp nơi hãy tạo nên một dòng văn học đàng hoàng và tử tế, trước hết là trong chính lãnh địa của mình, sau làm cho cái tử tế đó, cái đàng hoàng ấy trở thành của tất cả.
Hải Hà: Rất cám ơn nhà thơ Đỗ Quyên đã dành thời gian chuyện trò. Chúc nhà thơ sức khỏe và nhiều ý tưởng sáng tạo!  
Cuối tháng 11.2019
HẢI HÀ thực hiện
Chú thích:
– Đỗ Quyên & Phan Thắng: “Toàn cầu hóa là một định mệnh khả ái”

Thứ Bảy, 18 tháng 6, 2016

Văn chương và thời sự: một đóng góp
về thể-loại tiểu-thuyết của Đỗ Quyên



Tham luận cho buổi ra mắt sách “Trung-Việt Việt-Trung”,
Toronto, Canada – 16/7/2016)


Thời sự bao gồm rất nhiều mặt trong xã hội, nhưng ta nên phân biệt mặt nào nổi trội hơn hết. Mặt gần như vấn đề công ăn việc làm, an ninh công cộng. Mặt xa như tương lai đất nước sẽ đi về đâu. Ví dụ, ta đang sống tại đất nước Hoa Kỳ, mặt gần là tình hình mong ổn-định đời sống; mặt xa là cuộc bầu cử Tổng Thống mới cho nước Mỹ sắp diễn ra, vì điều đó đồng thời liên-hệ an-ninh thế giới, trong đó có đất nước Việt Nam. Còn cho Việt Nam, mặt xa của thời sự là vấn đề tranh chấp vòng đai an-ninh duyên hải, đưa tới sự an-toàn lãnh thổ, trong đó quyền khai thác tài nguyên về biển được tôn trọng. Nhà văn Đỗ Quyên hiện cư ngụ tại Vancouver-Canada, thì bận tâm về thời-sự cũng gần giống như cư dân Việt đang ở Mỹ, đang là công-dân Mỹ, nhưng nguồn gốc vẫn là người Việt có những suy-tư về tình hình ở Biển Đông, nơi một cường-quốc đang lên muốn gồm thâu gần hết chủ quyền ở vùng biển đó. Đọc suốt cuốn tiểu-thuyết lấy thời-sự Biển Đông làm đề-tài, ta nhận ra quan-điểm của nhà văn Đỗ Quyên rất đồng quan-điểm chung của người Việt: không muốn Việt Nam thành bãi chiến trường khu vực hay liên can vào tranh chấp quốc tế. Hoa Kỳ, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, vì quyền lưu-thông hàng hải liên-hệ kinh tế rất lớn với toàn vùng Đông Á và Đông Nam Á. Trung Quốc với ý định một mình làm chủ những mỏ dầu và ngư-trường của gần hết Biển Đông; muốn tạo vòng đai ủng-hộ gần như là lệ-thuộc kinh-tế của các nước chung quanh. Vì vậy, vừa muốn giữ quyền lợi lãnh hải cùng vẹn toàn độc lập quốc gia mà lại muốn được ở vị-trí Trung Lập, muốn không thành bãi chiến trường giữa hai thế lực, điều đó phải rất khôn khéo uyển chuyển không liên minh quân sự với cường quốc nào, đồng thời phải trang-bị quân-sự đủ sức chống trả, đủ sức tự-vệ để bảo đảm độc lâp quốc gia, chờ sự giải-quyết song phương hay đa phương bằng các Hiệp Định hòa bình. Đủ sức giải-quyết song phương hay không? Nếu không thì phải làm sao. Vì vậy, trước hết phải tiên-liệu vị-thế Trung Lập có vững không, có được bảo đảm nào bằng Hiệp Định thỏa thuận của hai phía và cả quốc tế?Nếu không thì phải làm sao? Có lẽ đây là những suy tư chung của người Việt. Nói tóm, thời sự mà nhà văn Đỗ Quyên đề cập là tình hình Biển Đông, không phải thời-sự cận gần đời sống hàng ngày, mà là thời sự phòng xa những rủi ro cho đất nước Việt Nam; đúng như lời nhà văn Nguyễn Trung Lâp mà ông Đỗ Quyên nhắc đến: “… kỷ nguyên đại dương đã đến, văn nghệ sĩ Việt mà thờ ơ với đại dương thì có ngày mất nước” (trang 140)

Trong lời Tựa, nhà phê bình Đỗ Minh Tuấn ở Hà Nội nhận định thể loại tiểu thuyết thời sự này là “Thi Pháp Đại Dương”, có lẽ nhà phê bình thấy ở trong tác phẩm cả một đại-tự-sự bao thầu rất nhiều những tiểu-tự-sư gồm tin tức, cắt dán tư-liệu, những câu thi ca, những trích đoạn phê bình, nhữngnối kết liên-văn-bản, những dòng xã luận nghiêm trang, những dòng dư luận đùa cợt, những giả tưởng ‘vũ khí sinh học viễn mơ” (Đỗ Minh Tuấn), cộng hưởng nhiều dáng vẻ gây “hiệu-quả thẩm mỹ hậu-hiện-đại”(Đ.M.T). Nhưng theo thiển nghĩ, tiểu-thuyết thời sự của tác giả Đỗ Quyên rất có thứ tự gồm “3 phần nhưng phân bố thành 4 bô-phận”: Phần đầu gồm hai truyện làm ta vội có cảm tưởng đây là đoạn khai mở của tiểu thuyết giả tưởng; phần thứ hai trên 400 trang toàn là Thời Sự Biển Đông; phần ba ngắn ngủi, trở lại với giả tưởng nhưng không mong chiến tranh kiểu giết người hàng loạt (Bom Trứng ám chỉ đến Vũ khí Hạt nhân hay vũ khí bí mật nào đó) trước tình thế có thể xảy ra chiến tranh cục bộ hay chiến tranh toàn vùng.
Phần mở đầu gồm hai truyện giả tưởng, nhưng hai truyện này bị bỏ lửng, tác giả không đào sâu tình tiết trong bộ phận chính của cuốn tiểu-thuyết thời sư; có lẽ như tác giả sử dụng hai truyện giả tưởng rất ngắn này như một khai mở gây tò mò muốn biết hồi kết như thế nào. Không có tình tiết nào thêm cho hai truyện giả tưởng trong phần chính hơn 400 trang toàn là chuyện thời sự; chỉ nhắc lại đôi dòng ở phần kết của truyện cốt nêu ra Quan Điểm không ưa chiến tranh, yêu chuộng bình an, không ưa gì vũ khí giết người hàng loạt, nên vũ khí sinh học chỉ là Đùa Cợt mà thôi. Ta nghĩ đây là kỹ thuật dựng truyện tiểu thuyết, vì chức năng tiểu-thuyết là để đọc cho thư giãn đời sống, vậy thì viết làm sao cho cho có dẫn lực để độc giả theo dõi cốt truyện. Truyện đầu nói về ý định làm sao di-chuyển cả nước Việt Nam và 90 triệu người Việt ra khỏi vị trí hiện tại để đến định cư ở vùng Canada hay Nam Cực (tác giả Đỗ Quyên dùng từ ngữ “moving” rất thông dụng ở Canada và Mỹ nói về di chuyển chỗ ở). Sở dĩ có ý kiến moving đất và người một quốc gia đi chỗ khác, vì định-mệnh địa-lý xứ ấy phải gắn liền với một xứ mà ba ngàn năm qua (kể từ triều-đại nhà Ân, nhà Tần bên Tàu) có đến 20 lần cất quân sang đánh Đại Việt: vậy trung bình 150 năm một lần. Nhưng riêng từ thời Cộng Hòa Dân Chủ Trung Hoa mới có 40 năm mà đã 4 lần sang đánh: vậy trung bình 10 năm một lần (Đỗ Quyên làm bản thống kê này, trang 284 trong sách). Nhưng “moving” như vậy tạo tiền-lệ không tốt với lý do: Tổ Quốc Moving vì họa xâm lăng. Từ định-mệnh địa lý đưa tới định mệnh văn-hóa. Vì ảnh hưởng văn hóa nàymà người Pháp (hay người Tây phương) đã đặt tên cho 3 nước Việt-Lào-Kampuchia gồm chung lại là “Indochine” (xứ Đông Dương): Lào và Kampuchia chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Ông Hồ Hữu Tường đã từng muốn thay thế văn-hóa đó bằng truyện giả-tưởng “Phi Lạc Sang Tàu”, với nhân vật là một thằng mõ của làng Việt, bị bán sang Tàu, được nhà sư Hồng Lạc người Trung Quốc  nhìn thấy như một thánh-sư cho sự nghiệp phò Minh phản Thanh: do vậy mà thằng mõ Việt được dịp phổ biến giá trị của văn minh châu thổ sông Hồng gồm ca-dao, tục ngữ, truyện tiếu-lâm; truyện ông Cống Quỳnh; và có lẽ cả giáo lý Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương vùng quê Cái-Răng Cần-Thơ ở Nam Bộ của Hồ Hữu Tường.Ông Hồ Hữu Tường từng là nhà văn viết cho các báo Pháp-ngữ thành thạo, nhưng trong “Phi Lạc Sang Tàu”thì rõ ràng ông không hề có ý-kiến thay thế văn hóa Trung Quốc bằng văn hóa Pháp hay Tây phương.

Truyện giả tưởng thứ hai cũng bị bỏ dở nửa chừng của nhà văn Đỗ Quyên: truyện chế tạo vũ khí sinh học, đó là Bom Trứng. Truyền giống bằng tinh trùng từ nam sang nữ, từ đực sang cái, đó là lẽ thông thường. Truyền giống từ trứng người nữ làm gián điệp mỹ-nhân-kế sang cho phái nam, đây là truyện giả tưởng của nhà văn Đỗ Quyên. Trứng đó là trứng hận-thù truyền sang trong thế mai-phục. Chúng sẽ sinh sôi nảy nở qua nhiều thế hệ, đợi khi có lệnh từ sóng vô tuyến thì đồng loạt giết kẻ thù(bằng lối tự sát?). Chúng rất tinh khôn, phân biệt được máu huyết ai là người đồng chủng từ hai thế hệ trước; ai là pha chủng ở những thế hê sau. Vậy pha chủng sẽ bị tiêu diệt hàng loạt. Nữ gián điệp đó cùng một yếu-nhân Trung Quốc sống như vợ chồng trên Giàn Khoan Dầu HY.189 neo trong vùng biển đặc quyền kinh tế của Đại Việt: nữ gián điệp đã hoàn tất công tác truyền “bom giống” cho kẻ thù.Và cái mũi khoan như bị một bàn tay khổng lồ vô hình từ đáy biển vặn bẻ hoàn toàn bất khiển dụng cho thăm dò trữ lượng dầu của Đại Việt. Từ đâu mà có Mũi Khoan đó (trang 55). Không thấy nhà văn giải thích trong suốt hơn 400 trang còn lại của cuốn sách. Tác giả không vô tình bỏ quên, mà đây là cách gây tò mò đọc cho hết cuốn sách. Gọi là “nhảy cóc” của thể thức Hậu Hiện Đại cũng được.

Vậy hai truyện giả tưởng trên chỉ là mào đầu đưa ta vào phần chính gồm rất nhiều tư liệu kiến thức và thời sự Biển Đông. Chỉ riêng phần này đã bao trùm gần toàn bộ cuốn sách, hơn bốn trăm trang chứa đựng những điều liên hệ đến Biển Đông, phải chăng như thế mà nhà phê bình Đỗ Minh Tuấn gọi là Thi Pháp Đại Dương. Thi pháp Đại Dương, theo nhà phê bình, không chỉ bao la tư liệu cho đề tài, mà còn ở thể loại tiểu thuyết tân kỳ do tổng hợp nhiều dáng vẻ của lối viết đương đại trên thế giới, nhất là ở Tây phương: “… các tư liệu đa ngành, đa dạng bề bộn trong tiểu thuyết đã kết nối thành những hình tượng cắt dán liên-văn-bản”.Và chủ đích của Thi-pháp Đại dương theo nhà phê bình là gì? Là để cho ta thấy: “Câu chuyện éo le đầy nghịch lý quái đản về quan-hệ Trung-Việt Việt-Trung là đại-tự-sự của thời đại hôm nay trên sân khấu đại dương… Trung-Việt Việt-Trung là cuốn tiểu-thuyết hậu-hiện-đại trí tuệ, chua chát, hài hước… khi cái bóng Trung Quốc đè nặng trong tâm tưởng, đe dọa cả tương lai…” Vậy cuốn tiểu thuyết này là một đạị-tự-sự, nếu có cắt dán hoặc liên-văn-bản thì không phải rời rạc không ăn nhập gì với nhau; mà là một tổng hợp nhiều thông tin, nhiều cái nhìn đa chiều đa quan điểm.Lấy thời sự mà người Việt từ trong nước đến hải ngoại đều đang theo dõi, đều có mối lo âu tương lai đất nước ra sao ở tình thế có thể là một trong các bãi chiến trường của trận Đại-chiến Thế-giới lần thứ III; hoặc khu-vực hơn thì cũng có thể là Đại-chiến Đông-Á bao gồm nhiều nước liên-hệ (Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Đô, Úc, Phi Luật Tân, Đài Loan, Mã Lai, Indonesia, có thể còn có Kampuchia, Lào, Pakistan…) Lấy thời sự dầu sôi lửa bỏng làm đề tài tiểu-thuyết với văn phong đùa cợt, có khi rất hùng hồn như bản Tuyên Cáo Hải Chiến Với Trung Quốc (nhưng trận hải chiến đó bất thành); hoặc hào hứng liệt kê ưu điểm những tàu ngầm mới mua, thấy ở trang 326, hoặc hỏa lực lợi hại của các chiến hạm mới đóng, thấy ở trang 441  (nhưng xét ra thì quan điểm của tác giả cũng như đa số người Việt là cố tranh thủ hòa bình, mà muốn hòa bình thì phải giải trừ mọi đe dọa). Trận hải chiến có tàu sân bay (Hàng Không Mẫu Hạm) Liêu Ninh tham dự đã bất thành: bên Trung Quốc rút quân vì lý do xã hội (Phong trào Dù đòi Dân Chủ ở Hồng Kông); vì lý do Văn Học (Đòi tiếng Quảng Đông được dùng như căn cước văn hóa của người Hồng Kông).
Với văn phong đùa cợt, nhưng cuốn Tiểu Thuyết này hàm chứa nhiều thông tin liên hệ đến Biển Đông, gần như một cuốn Từ Điển Bách Khoa, chẳng hạn  kiến thức Chủng Tộc Học vùng Đông Á (từ trang 157 và từ trang163); kiến thức 240 bộ sử của Trung Quốc (trang 165); kiến thức địa lý Trung Quốc thời vương triều Nhà Thanh (trang 243); kiến thức Địa lý cảng Cam Ranh (trang 309); kiến thức ưu-điểm đáng gờm của tàu ngầm Kilo mua của Nga (trang 326); kiến thức về Luật Biển Unclos (trang 412);kiến thức về Tiếng Quảng Đông (trang 418);và còn nhiều kiến thức nữa. Tác giả như có sở thích về Thống Kê, nhưng vì thể-loại là Tiểu Thuyết mà còn với tính chất hài hước đùa cợt nữa, nên không thể ghi chú các nguồn tài-liệu như thể loại biên khảo; do đó có thể làm độc giả bâng khuâng nguồn hư thực. Có những thống kê, ta biết đó là xác thật; như thống kê Quốc Phòng của từng nước Đông Á, Đông Nam Á, Đông Bắc Á (trang 362); như thống kê Mười Trận Hải Chiến Có Tàu Sân Bay (trang 340); như thống kê 12 cuộc chiến lớn của Trung Quốc (trang 274); như thống kê 20 lần Trung Quốc đem quân đánh Đại Việt trong vòng 3000 năm (trang 284)… Nhưng cũng có nhữngđiều mà ta đoán tác giả nói quá lời qua lối viết như giỡn chơi; ví dụ trong trận hải chiến tranh giành đảo Falkland giữa Anh và Argentina, hải quân Anh có hệ thống quan trắc dưới mặt nước nhìn xuyên thấu các Hàng Không Mẫu Hạm (trang 340); ví dụ trong vịnh Cam Ranh ẩn náu một đường hầm rất sâu chứa vài tàu ngầm nguyên tử (trang 311)…Đó là chưa kể tính chất giả tưởng vượt quá khoa học, vượt quá giới hạn tầm thực hiện của nhân loại, như Bom Trứng, Moving cả Đất Việt.
Xin nhắc lại, độc giả phỏng đoán có những điều như thật. Cũng chỉ là phỏng đoán, mà vì tính chất của thể loại Tiểu Thuyết làm tác giả không thể ghi chú nguồn tài liệu như kiểu biên khảo, vậy thiển nghĩ có thể đề nghị một giải pháp: Trong Lời Phi Lộ ở đầu cuốn sách, tác giả phân biệt giùm độc giả tài liệu nào là thật, tài liệu nào là đùa cợt. Lưu ý độc giả như sau: tài liệu nào thật, in lối chữ xiên hoặc đậm nét. Nhờ vậy, độc giả nào chỉ thích đọc tiểu thuyết; không có cảm giác rườm rà của những ghi chú. Độc giả nào đọc rồi cần tìm hiểu thêm, nhờ dạng chữ phân biệt ấy, họ biết điều nào là tài-liệu thật ở trong sách Trung-Việt Việt-Trung. Còn muốn rõ hơn thì họ kiểm tra lại trên internet, trên Google.
Riêng về văn phong của tác giả Đỗ Quyên; không gì dễ nhận ra hơn bằng những trích dẫn sau đây, đọc để cảm thức vẻ trào lộng của thể loại tiểu thuyết đọc chơi cho vui, vui nhưng hàm chứa vài nét văn hóa đặc thù của mỗi quốc gia. Chẳng hạn với Thái Lan:…bác Thái Lan như thể vô ý hoặc cố tình coi chuyện “tranh” chuyện “chấp” vài cái bãi khi chìm lúc nổi xa khơi là chuyên ngoài cửa Phật. Bên các cụ đồ nho gọi là kính nhi viễn chi… cũng phải thôi, bởi bác Thái Lan có quan hệ đối tác khá chặt chẽ về kinh tế và quân sự với chú Ba (trang 368). Chẳng hạn với Nhật Bản: … nhà bác Nhật đều được phòng vệ vững hơn bàn thạch bằng hệ thống tên lửa hiện đại…tên lửa có thể bắn tan như xác pháo các tên lửa đạn đạo bay ra ngoài bầu khí quyển: Phải như vậy thì bác mới yên tâm ngắm hoa anh đào, làm thơ Haiku… (trang 378).Đọc có chỗ thấy tác giả có vẻ khách quan, không cố tình mạt sát chê bai, nhận xét nền văn minh Trung Quốc đã có bao nhiêu ngàn năm phát triển (từ trang 250). Trong đó có một điều ta ta mới biết khi nói rằng đời nhà Đường ở thế kỷ thứ 7 đã phát minh yên ngựa có chân đứng: khi phóng ngựa như bay có thể đứng lên bắn cung, làm nên sức mạnh áp đảo của kỵ binh. Trước đây, ta tưởng chính quân Mông Cổ ở thế kỷ 13 đã phát minh yên ngựa có chân đứng và ứng dụng trong cuộc trường chinh Châu Âu bằng thế tiến công vô địch này. Khách quan kể về nền văn minh lâu đời của Trung Quốc, nhưng ở chỗ khác tác giả lại hài hước, cũng một kiểu văn phong đùa cợt khi nói về Thái Lan và Nhật Bản như trên; lần này với Hải quân Trung Quốc trước sức mạnh của Hạm Đội Hoa Kỳ: “… đến năm 2016, tàu sân bay thế hệ mới USS Gerald Ford của hải quân Mỹ trình làng tại đây… Với trị giá gần 13 tỷ USD dù kích thước chỉ bự hơn chút mẻm, song vũ khí trang bị trên tàu thì thôi rồi chú Ba Tàu ơi…” (trang 289).

Có chỗ, nếu không đọc kỹ, ta lẫn lộn từ chuyện này bắt qua chuyện khác. Ví dụ ở trang 246 đến 248 là thư từ qua lại giữa hai người Việt khen ngợi Bom Trứng, tức Bom Dị Bào; rồi tiếp liền theo đó là những bàn luận giữa những ngườiTrung Quốc nói về Đảng Cộng Sản Việt quên ơn Hậu phương Trung Quốc trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ (không thấy người Trung Quốc nhắc đến sự kiện Tổng Thống Mỹ Nixon bí mật thỏa thuận gì với Chủ Tịch Mao Trạch Đông). Nếu không lưu ýcó sự khác nhau giữa hai bàn luận ấy, ta sẽ không rõ danh xưng “chúng ta” là hai người nào. Đọc lại lần thứ hai chỗ trộn lẫn ấy thì ta mới hay ý-kiến qua lại giữa hai người Việt là từ thư-từ do tình báo Trung Quốc thu được, và trong khi nói chuyện với nhau người Trung Quốc nhắc đến ý kiến qua lại bị tóm thâu ấy. Đây là một ví dụ cho ta thấy tác giả Đỗ Quyên có áp dụng “kỹ thuật nhảy cóc” từ việc này sang việc khác, bằng “lối viết liên tục bất phân”, một trong những kỹ thuật viết tiểu thuyết hiện đại. Chắc còn nhiều chỗ áp dụng kỹ thuật này mà ta vô tình không lưu ý trong tiểu thuyết có quá nhiều sự kiện “Trung-Việt Việt-Trung”.

Tiểu-thuyết ‘Trung-Việt Việt-Trung” với hoài vọng một đóng góp thể-loại mới vào văn học Việt Nam. Nội dung không phải cốt truyện có những nhân vật mà là những liên-hệ tài liệu về Biển Đông gắn liền vào tương quan lịch sử giữa Việt Nam và Trung Quốc. Mối lo lẽ sống còn, nền độc lập, vẹn toàn lãnh thổ (gồm cả lãnh hải chủ quyền và đặc quyền kinh tế 200 hải-lý)của Việt Nam trước định mệnh địa lý gần kề một cường quốc muốn làm bá chủ khu vực. Nếu vậy, có người chắc sẽ hỏi tại sao tác giả không viết sách biên khảo nghiên cứu; mà lại viết thành tiểu-thuyết, viết thành loại “văn chương viễn mơ nhắm đích chính trị’(Đỗ Quyên). Chức năng đầu tiên của tiểu-thuyết có lẽ là để độc giả đọc giải trí; nếu từ giải-trí mà số độc giả càng ngày càng tăng cao, người ta đua nhau tìm đọc, thì bấy giờ giới văn học mới lưu ý xét đến khía cạnh văn chương cùng thông điệp ẩn tàng trong sách, và đưa nó vào hàng ngũ giá trị văn học. Chẳng hạn như cuốn “Trăm Năm Cô Đơn” của Gabriel Garcia Marquez, giải Nobel Văn chương 1982; ban đầu dường như mọi người thấy nó vô lý với lối viết “Hiện Thực Huyền Ảo”. Vậy “Trung-Việt Việt-Trung” chắc cũng có hoài vọng ấy. Cách-thức thực hiện: Hai truyện Giả Tưởng chỉ là mào đầu;viết như đùa cợt mâu thuẫn Trung-Việt về Biển Đônglà phần chính (đồng thời dính kết với tương quan lực lượng hải quân quốc tế có liên-hệ cho an toàn hàng hải thương thuyền dầy đặc ở vùng biển này). Và thông điệp có lẽ là: Việt Nam nên ứng xử theo lối Ngoại Giao Khôn Khéo của Nguyễn Trãi phát biểu trong “Bình Ngô Đại Cáo”. Theo Tinh Thần ấy, người Việtđã và sẽ đối phó quyết liệt với xâm lăng, sau đó vẫn mong hiệp-định hòa-bình với Trung Quốc. Bom Dị Bào biểu tượng cho vũ khí sát hại khủng khiếp; hay Di Chuyển cả Đất Việt đi nơi khác: đây là những điều đùa cợt tác giả chỉ nhắc phớt qua, hoặc đã bỏ quên, một cách có chủ-ý trong phần cuối của cuốn sách.


City of Walnut, California, tháng 6 năm 2016
Trần Văn Nam
=========
Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=22659

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

200 tác giả, 20 năm, 8 thế hệ:
Phê bình thơ Việt hậu Đổi mới

Kỳ này, xin mời các bạn cùng tìm hiểu một chuyên khảo của bạn Đỗ Quyên về thời sự Văn học Việt Nam.



ĐỖ QUYÊN
  
“Hãy đánh chết nó đi, nhà phê bình văn học - cái thằng khốn!”
(J.W. Goethe)

+

A. MỘT MỐC “CHUẨN” CHO THỜI KỲ HẬU ĐỔI MỚI?

Hậu Đổi mới. Đã có nhiều cố gắng từ các nhà nghiên cứu lý luận và văn học sử đặng tìm ra đường biên cho giai đoạn đương đại này của văn học Việt, tính từ sau mốc lịch sử và mạnh mẽ 1986-1989 của thời kỳ Đổi mới. Song, dường như tới nay chưa có “cột mốc” nào chuẩn xác và dễ đồng thuận? (1)

Chúng ta thử cất công dùng 5 loại phân kỳ để tạo “khu vực biên giới” giữa 2 giai đoạn Đổi mới (1986-1989) và hậu Đổi mới (từ khoảng giữa thập niên 1990 đến nay).

+ Phân kỳ kỹ thuật - công nghệ: Cuối năm 1997, Internet đã tới Việt Nam như mang lại đôi hài vạn dặm, đưa đất nước vào xa lộ toàn cầu hóa và giao lưu văn hóa - xã hội quốc tế.

+ Phân kỳ chính trị - xã hội: Giữa năm 1995, nước CHXHCN Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN như một biểu hiện bình thường hóa quốc gia khi “muốn làm bạn với tất cả các nước”, “đa dạng hóa quan hệ”, “chủ động hội nhập khu vực và thế giới”…

+ Phân kỳ tư tưởng - quan điểm: “(…) vào tháng 7/1990, Ban Bí thư Trung ương ĐCSVN thông qua chỉ thị ‘Về một số vấn đề trong công tác quản lý văn học, nghệ thuật hiện nay’, đây là văn kiện ấn định toàn bộ đời sống văn học ở CHXHCN Việt Nam. (…) Với sự xuất hiện văn kiện này, trong văn học Việt Nam trên thực tế đã kết liễu giai đoạn mà nhà văn nổi tiếng Nguyễn Đình Thi gọi là giai đoạn ‘khủng hoảng’. Bắt đầu chuyển sang thời ‘dân chủ hóa một cách có lãnh đạo’ xã hội Việt Nam.”  (2)

+ Phân kỳ cơ cấu - tổ chức: Đầu năm 1995, Hội Nhà văn Việt Nam họp Đại hội lần 5, bầu ra (và sau bổ sung) Ban Chấp hành gồm 7 người với sự phân công Tổng Thư ký - Nguyễn Khoa Điềm, Phó Tổng Thư ký thường trực - Hữu Thỉnh. Trong Ban Chấp hành mới đó, không còn Nguyên Ngọc cùng một số vị thường được xem là “phe Đổi mới”.

+ Phân kỳ văn học - văn học sử: Có thể xem các thời điểm khởi phát hậu Đổi mới trùng với quãng thời gian mà đề tài Hậu hiện đại trên thế giới đến được cộng đồng văn chương Việt.
Ở trong nước, ngay từ năm 1991 trên tạp chí Văn Học đã có bài dịch Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết hậu hiện đại của A. Blach; năm 1997 có bài dịch Về chủ nghĩa hậu hiện đại (J. Verhaar). Tới năm 2000 tạp chí Nhà Văn có bài viết Chủ nghĩa hậu hiện đại của Phương Lựu. [Xem: Nguyễn Hưng Quốc (3), và Phan Tuấn Anh (4)]
Ở ngoài nước, Tạp chí Thơ trong 2 năm 1997-1998 có 2 bài dịch của Phan Tấn Hải là Giới thiệu thơ hậu hiện đại Hoa Kỳ (P. Hoover), và Chủ nghĩa hậu hiện đại và văn chương (S. Connor). Còn Tạp chí Việt số đầu năm 2000 có tiểu luận Viết, từ hiện đại đến hậu hiện đại của Hoàng Ngọc-Tuấn. Đặc biệt, như một trong vài người đi đầu quảng bá và giới thiệu, Nguyễn Hưng Quốc từng vài lần nói về chủ nghĩa hậu hiện đại từ năm 1996 trong 2 cuốn sách Võ Phiến, Thơ, v.v... và v.v... và đáng kể là cuốn tiểu luận Văn học Việt Nam, từ điểm nhìn h(ậu h)iện đại in năm 2000. (5)

B. MỘT DANH SÁCH NHÌN NHẬN NHANH PHÊ BÌNH THƠ VIỆT TRONG THỜI HẬU ĐỔI MỚI

Riết róng mà tương đối, chúng ta hãy xem xét mức độ sau đây: trong các công việc định giá, hướng dẫn văn học thì người phê bình có chức phận (nghề nghiệp), người bình luận có bổn phận (cơ duyên), và người giới thiệu có thẩm quyền (nhiệm vụ) về đối tượng mà họ quan tâm.

Theo đó, vài năm qua chúng tôi thu thập tài liệu và xây dựng quan niệm cho một Bảng sơ lược tiếp nhận (nhận diện, nhận dạng, nhận giọng, nhận giới) và phân loại (thế hệ, phạm vi, thể loại, khuynh hướng) các tác giả Việt Nam hiện đại và đương đại trong lĩnh vực phê bình, bình luận, giới thiệu thơ Việt và thế giới. (Ở đây gọi chung là phê bình).

Phạm vi về thời cuộc và niên đại là thời kỳ hậu Đổi mới (từ khoảng giữa thập niên 1990 đến nay).

Xin dẫn ra trước nơi đây một danh sách sơ bộ (6) và tóm tắt về những tác giả Việt phê bình thơ ở trong và ngoài nước có tác phẩm, bài vở, diễn đàn với ảnh hưởng nhất định (tạo dư luận nơi độc giả, gây ấn tượng giữa văn giới…) trong chừng 20 năm qua theo phân loại thế hệ/độ tuổi.

1910s: Hoàng Như Mai (sách), v.v…

1920s: Lê Đình Kỵ (sách), Trần Ngọc Ninh, Đỗ Đức Hiểu (sách), Võ Phiến (sách), Khổng Ðức, Huỳnh Sanh Thông, Lê Đạt (sách), Mai Thảo, v.v…

1930s: Hoàng Ngọc Hiến, Dương Tường, Vân Long (sách), Trần Văn Tích, Phan Cự Đệ (sách), Văn Tâm (sách), Hồ Sĩ Vịnh (sách), Hà Minh Đức (sách), Thi Vũ (sách), Đặng Hiển, Phong Lê (sách), Hoài Anh (sách), Diễm Châu, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Đăng Thường, Viên Linh, Nguyễn Huệ Chi (sách), Nguyễn Tiến Văn, Trần Văn Nam (sách), v.v…

1940s: Đặng Tiến (sách), Vũ Quần Phương (sách), Trần Đình Sử (sách), Nguyễn Vũ Tiềm, Trúc Thông, Yến Nhi, Đào Trung Đạo, Gia Dũng, Phạm Tiến Duật (sách), Nguyễn Nguyên Bảy (sách), Mai Quốc Liên (sách), Bằng Việt (sách), Luân Hoán, Ngô Thảo (sách), Mã Giang Lân (sách), Đặng Phùng Quân (sách), Vương Trí Nhàn, Du Tử Lê (sách), Hữu Thỉnh (sách), Hoàng Hưng (sách), Thái Doãn Hiểu (sách), Anh Ngọc, Kiều Văn (sách), Nam Dao, Trần Ninh Hồ, Vương Trọng (sách), Thụy Khuê (sách), Trần Nhuận Minh (sách), Vũ Duy Thông, Trần Trương, Ý Nhi, Ngô Thế Oanh, Ngô Nguyên Nghiễm (sách), Vũ Văn Sỹ, Ngô Văn Tao, Lại Nguyên Ân (sách), Lò Ngân Sủn (sách), Hồng Diệu (sách), Thái Kim Lan, Phạm Đình Ân, Khế Iêm (sách), Thanh Thảo, Văn Chinh (sách), Trần Mạnh Hảo (sách), Nguyễn Ngọc Thiện (sách), Lê Quang Trang (sách), Nguyễn Trọng Tạo (sách), Dư Thị Hoàn, Anh Chi, Kim Chuông, Nguyễn Đức Mậu, Đỗ Lai Thúy (sách), Nguyễn Duy, Trịnh Thanh Sơn (sách), Vũ Nho, Nguyễn Văn Lưu (sách), Đặng Văn Sinh, Trần Nghi Hoàng, Nguyễn Thụy Kha, Đỗ Hoàng, Mai Văn Hoan, Bùi Công Thuấn, Nguyễn Hoàng Sơn (sách), Vũ Bình Lục, Lê Thành Nghị (sách), Đường Văn, Hoàng Liên (sách), Nguyễn Văn Long (sách), v.v…

1950s: Lã Nguyên (sách), Khuất Bình Nguyên, Nguyễn Huy Thiệp (sách), Đỗ Ngọc Yên, Phan Nguyên, Phan Trọng Thưởng (sách), Bùi Việt Thắng, Phạm Quang Trung (sách), Đinh Quang Tốn (sách), Nguyễn Vy-Khanh (sách), Chân Phương, Nguyễn Văn Dân (sách), Đỗ Minh Tuấn (sách), Ngu Yên (sách), Võ Chân Cửu, Triệu Lam Châu, Trần Hoàng Vy, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Tà Cúc, Ngô Vĩnh Bình, Lý Hoài Thu, Bùi Vĩnh Phúc (sách), Lê Vũ, Lê Thị Huệ, Đào Duy Hiệp, Nguyên An, Nguyễn Việt Chiến (sách), Hữu Đạt, Thế Dũng, Nguyễn Hồng Nhung, Đoàn Đức Phương (sách), Huỳnh Như Phương, Trần Quang Quý, Thu Tứ (sách), Hồ Thế Hà, Đỗ Kh., Tâm Nhiên, Đặng Huy Giang, Nguyễn Đức Tùng (sách), Mai Văn Phấn, Đỗ Quyên, Phạm Xuân Nguyên (sách), Hoàng Ngọc-Tuấn (sách), Nguyễn Sĩ Đại, Nguyễn Hữu Quý, Inrasara (sách), Thường Quán, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Hưng Quốc (sách), Nguyễn Hoàng Đức, Trần Đăng Khoa (sách), Lưu Khánh Thơ (sách), Chu Văn Sơn, Nguyễn Hòa (sách), Văn Giá, Trần Hoài Anh (sách), Nguyễn Hữu Sơn (sách), Nguyễn Thanh Tú, Đông La (sách), Phạm Kỳ Đăng, Nguyễn Lương Ngọc, Hiền Nguyễn, Nguyễn Đỗ, v.v…

1960s: Dương Kiều Minh, Nguyễn Chí Hoan, Phạm Thị Hoài, Đỗ Trọng Khơi, Nguyễn Đăng Điệp (sách), Thận Nhiên, Hồng Thanh Quang, Ngô Tự Lập (sách), Chu Thị Thơm, Đinh Linh, Trần Đình Thu (sách), Trần Ngọc Tuấn, Nguyễn Huy Thông, Nguyễn Bình Phương, Đặng Thân (sách), Đoàn Cầm Thi (sách), Phan Nhiên Hạo, Phạm Khải (sách), Lê Đình Nhất-Lang, v.v…

1970s: Nguyễn Thanh Sơn (sách), Thiên Sơn, Nguyễn Thanh Tâm (sách), Nguyễn Hữu Hồng Minh, Trần Văn Toàn, Phùng Văn Khai, Nguyễn Thuỵ Anh, Hoài Nam (sách), Mai Bá Ấn, Khánh Phương (sách), Trần Vũ Long, Văn Bảy/Lý Đợi, Lê Thiếu Nhơn (sách), Lê Hồ Quang (sách), v.v…

1980s: Cao Việt Dũng, Đoàn Minh Tâm, Hoàng Đăng Khoa, Mai Anh Tuấn, Trần Thiện Khanh, Hoàng Thụy Anh, Đoàn Ánh Dương (sách), Ngô Hương Giang (sách), Nhã Thuyên, v.v…

Như thế, với dung sai cho phép, con số cập nhật đang là chẵn 200 tác giả ở độ tuổi trong 8 thập niên.
Nhiều nhất là 67 vị được sinh hạ trong kỷ nguyên hậu Thơ mới, thuộc vào thời kỳ Cách mạng mùa Thu, tức là thế hệ 4X.
Kỷ nguyên tiền Thơ mới còn gửi lại chút âm điệu của mình qua “Con khủng long lãng mạn cuối cùng” vừa qua đời 2 năm nay: Giáo-sư-thi-ca Hoàng Như Mai.
Kỷ nguyên toàn cầu hóa 8X mới chỉ tạm gửi vào đội ngũ này 9 “nhà phê bình trẻ” (7)

Có thể xem đây như một trong các danh sách nhìn nhận nhanh phê bình thơ Việt Nam trong thời hậu Đổi mới – cái thời vụ văn học đã và đang nở trên bàn tay ánh mắt mỗi chúng ta mà lại chẳng được chầm bập tương xứng. (8)

Với khả năng ít ỏi và tầm nhìn eo hẹp của một kẻ ở xa các trung điểm văn nghệ nước nhà hẳn sẽ phạm phải khiếm khuyết, chân thành cảm tạ mọi góp ý, chỉnh lý từ quý bạn đọc và bạn văn gần xa! *)


[Trích bản thảo Nhìn nhận nhanh phê bình thơ Việt]

Vancouver  - cập nhật 13/1/2016
Đỗ Quyên

------------
*) Lời cảm ơn đầu tiên xin dành cho các nhà biên tập Hàn Thủy, Hồ Đăng Thanh Ngọc đã sớm có các nhận định sâu sắc và gợi ý cần thiết cho khảo cứu.

**) Chú thích:

(1) Ví dụ như một số nhận định dưới đây (với các nhấn mạnh của chúng tôi - ĐQ):

- “Đổi mới trên mặt văn hóa ở Việt Nam thì được biết dưới tên Cởi mở, tương tự như chính sách Glastnost của Nga Xô. Quá trình này bắt đầu cùng với Đổi mới Kinh tế nhưng sau đó dừng lại trong thập niên 1990”. (Bách khoa toàn thư mở, vi.wikipedia.org).

- “(…) trong sự thoái trào của làn sóng Đổi mới và bối cảnh toàn cầu hóa, từ khoảng những năm 1990 đến nay.” (Nhã Thuyên, Đặng Thân, Phạm Xuân Nguyên; Tọa đàm “Những tiếng nói ngầm: thơ Việt Nam Hậu Đổi Mới”, vanchuongviet.org).

- “Phong trào văn học Đổi mới được tính từ năm 1986, đạt tới cao trào vào những năm 1988-1989, cho đến nay không có một kết thúc chính thức. Khái niệm ‘Hậu Đổi mới’ dùng ở đây cho khoảng thời gian từ nửa cuối thập niên 90 đến nay, không thật cụ thể từ năm, tháng nào; mong được cung cấp một chỉ dẫn chính xác từ các nhà quan sát và nghiên cứu lịch sử giai đoạn này. Nếu có một Đổi mới 2, đương nhiên khái niệm đang dùng phải được chuyển thành Hậu Đổi mới 1. Thay vì một định nghĩa, xin đi vào một số vấn đề của Hậu Đổi mới đối với văn học mà theo tôi là đáng lưu ý.” (Phạm Thị Hoài; Nhà văn thời Hậu Đổi Mới, talawas.org 10/2/2004).

- “[…] thế hệ thơ có một định phận kì lạ, họ đã thổi làn gió mới vào khí hậu thơ Việt Nam. Nó đã thổi như thế suốt 15 năm… cho đến khi Internet xuất hiện, thì thơ Việt Nam mới dịch chuyển theo hướng khác hẳn! […] Hậu Đổi mới: Chuyển hướng, khi các Website văn chương cấp tập ra đời, cả trong lẫn ngoài nước: Tienve.org (từ đầu năm 2002), Evan (từ năm 2004 đến năm 2005, sau đó chuyển thành báo đưa tin là chính), Vannghesongcuulong.org (từ 2004, năm 2007 đổi tên là Vanchuongviet.org), Damau.org (từ cuối năm 2006)… Tạm lấy mốc: 2001 để vạch một đường biên, dẫu mờ.” (Inrasara; Văn chương TP. Hồ Chí Minh thời hậu Đổi mới, khởi đầu cho một khởi đầu, 4phuong.net).

- “Sự phân kỳ về mốc thời gian có thể khác nhau giữa các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực nghệ thuật khác nhau, cũng như ngay trong lĩnh vực mỹ thuật. Trong bài viết này, thuật ngữ Hậu Đổi mới được xem xét và xác định trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2014.” (Bùi Thị Thanh Mai; Nghiên cứu xác định thời gian và đặc điểm Mỹ thuật Hậu Đổi mới ở Việt Nam, vietnamese-arts.com 23/11/2014). Trong bài, Bùi Thị Thanh Mai đã phân tích các ý kiến của Phạm Thị Hoài, Inrasara, nhóm Nhã Thuyên, và Đỗ Lai Thúy.

(2) A. A. Sokolov; Văn hóa và văn học Việt Nam trong những năm đổi mới (1986-1996), Vân Trang dịch, talawas.org 25/5/2004. Nhận định của Nguyễn Đình Thi là từ bài báo Văn học Việt Nam, trăn trở người trong nghề, được in vào cuối năm 1996 như chú thích trong bài đã dẫn.

(3) Nguyễn Hưng Quốc; Chủ nghĩa h(ậu h)iện đại và văn học Việt Nam, tienve.org.

(4) Phan Tuấn Anh; H/ậu-ại hiện đại trong văn học Việt Nam - công viên những lối đi hai ngã rẽ, Tạp chí Sông Hương số 289 tháng 3/2013, tapchisonghuong.com.vn 29/3/2013.

(5) Chú thích 3.

(6) Trích và bổ sung từ bản đầy đủ (chưa công bố) của Lời bạt trong sách Thơ cần thiết cho ai, (Nguyễn Đức Tùng, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2015; vanchuongviet.org 8/8/2015). Có sửa chữa và viết thêm so với phiên bản 3/12/2015 đã đăng trên vanviet.info 1/1/2016.

(7) Trẻ - cái con chữ cuối cùng khiến cả cụm từ trên bị để trong nháy nháy - là cách gọi rất phi văn học và cực phản thi ca những khi nó trần trùng trục tung tăng trong các bài vở mà chúng ta đang phải mục sở thị trên mọi báo chí, thậm chí ở không ít bài lý luận, sách phê bình hàn lâm và khoa bảng. Họ - không ai khác - là chủ nhân ông của thời hậu Đổi mới. Trẻ tuổi đời (tất nhiên!) song các vị ấy đã phải cứng cựa (cựa chìm hay cựa ẩn, tùy nghi) trên văn đàn mà một phần ba danh sách từng ê thân rã cánh. “Không phải dạng vừa đâu!”

(8) Xét về độ dài hạn định và chu kỳ hoạt động, lướt lịch sử văn học Việt Nam hiện đại chúng tôi cả nghĩ khoảng thời gian trên dưới 2 thập niên là vừa đủ cho một giai đoạn/thời kỳ văn học Việt ra đời, phát triển và chấm dứt.
Để tạm kết thúc, nhân cơ hội mùa lễ Tết xin được chuyện vãn bói văn qua 5 câu hỏi:
- Giai đoạn sau-hậu-Đổi-mới sẽ mang tên gì?
- Tức là, sự kiện/động lực chính trị, xã hội, văn hóa hay văn học nào của Việt Nam và quốc tế sẽ khiến văn học Việt sang chương hồi mới?
- Liệu 4 sự kiện/vấn đề chính trị, xã hội, an ninh, văn hóa của đất nước ở tầm khu vực và quốc tế sau đây có thể “sinh sự văn nghệ” ít nhiều chăng: Hiệp định Đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương TPP được chính thức ký kết tại New Zealand trong đầu tháng tới - ngày 4/2/2016; Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 12 diễn ra trong nửa tháng tới - 20-28/1/2016; Tình thế không biết đâu mà lần từ khủng hoảng biển Đông vài năm qua như đang châm mồi cho cái “đèn cù thiên thu” Trung-Việt Việt-Trung; Sự lớn lên trong nhọc nhằn và gần đây gây ảnh hưởng đáng ghi nhận của xã hội dân sự ở Việt Nam qua hàng chục tổ chức không chính thức?
- Phải chăng thời kỳ sau-hậu-Đổi-mới rồi cũng sẽ hiện diện từ tốn và dàn trải hệt như “phụ huynh” của nó - thời kỳ hậu Đổi mới?
- Có thể dự báo ra sao về dòng Văn học Việt sau hậu Đổi mới: Đặc trưng văn chương? Tác giả: thế hệ, quan điểm, vùng miền, giới tính? Tác phẩm: khuynh hướng sáng tác, nội dung và hình thức nghệ thuật, thể loại? Tiếp nhận, phá bỏ, sáng tạo gì so với 2 dòng Văn học Đổi mới và hậu Đổi mới?



Thứ Năm, 23 tháng 10, 2014

Giai điệu thơ Tiệp Khắc
trong lòng Việt Nam

(Lời bạt Tuyển tập thơ Séc & Slovakia 
của Do.honza Đỗ Ngọc Việt Dũng)


Nếu như mỗi bài thơ đã là một định nghĩa về thơ
thì liệu mỗi bản dịch không chỉ định nghĩa lại mà còn là một định nghĩa khác về thơ?
(Đ.Q.)


Hai chữ “Tiệp Khắc” thân quen

Thay cho “Séc và Slovakia”, tôi dùng chữ cũ “Tiệp Khắc”. Hai chữ hết đỗi thân quen và tự hào của cái thuở ban đầu 60 năm trước cho tới thời hoàng kim trong giao lưu văn hóa, chính trị và xã hội giữa hai đất nước Việt Nam và Tiệp Khắc những năm 1980. Đó cũng là tuổi đời, là đoạn đời đẹp nhất mà Nàng thơ Tiệp Khắc dành cho người dịch và biên soạn cuốn Tuyển tập thơ Séc & Slovakia([1]).
Bia Tiệp; Pha lê Tiệp; và Hiến chương 77 - Cách mạng Nhung 1989 - Tổng thống Václav Đó là 3 hình ảnh đầu tiên về Tiệp Khắc trong thời đương đại. Với văn nghệ sĩ,, còn là Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary; là Antonín Dvořák - nhà soạn nhạc quan trọng nhất của mọi thời kỳ, có tác phẩm From the new world từng theo những bước chân đầu tiên của loài người chinh phục Mặt trăng; là Franz Kafka - nhà văn gốc Do Thái, người tạo nguồn cho chủ nghĩa Hiện sinh; là Milan Kundera - nhà văn nổi tiếng nhất của Tiệp Khắc hiện đại; và là Jaroslav Seifert - công dân Tiệp Khắc đầu tiên với tư cách nhà thơ đoạt Giải Nobel về Văn học năm 1984. Thật tự hào cho 18 triệu chủ nhân của 2 ngôn ngữ Séc và Slovak trên toàn thế giới.
Trong hàng ngũ các Đặc sứ Nàng thơ Đông Âu & Nga đang xuất hiện trở lại Việt Nam vào các năm qua như Tạ Minh Châu của Ba Lan, Thụy Anh của Nga, Nguyễn Hồng Nhung của Hungary, Phạm Kỳ Đăng của Đức… đang có thêm Do.honza Đỗ Ngọc Việt Dũng của Tiệp Khắc.

Dịch giả Việt-Tiệp

Tự bản chất, mỗi bài thơ đã là một đơn vị nhiều ý nghĩa; ngay trong cùng một văn hóa, một ngôn ngữ cũng đã có nhiều cách hiểu một bài thơ. Do vậy, việc dịch thơ thường bị coi là bất khả thi. Nhưng cũng tự bản chất, như một yếu tố văn hóa, thi ca có tính giao lưu; mà dịch thuật chỉ như một cái giếng lộ thiên cho các dân tộc khác tới cùng hân hưởng nguồn-thơ của dân-tộc-nguồn. Ai sẽ là người đào giếng, khơi mạch nước ngầm? Chính là các dịch giả tri âm tri kỷ. Bao đời nay, giữa thế giới thi ca nhân loại, hàng ngàn dòng thơ đã được hiển lộ trong ánh mắt của những kẻ yêu thơ ở mọi vùng đất nước rất xa khác nhau.
Giờ đây, dường như lần đầu tiên, đang tới với bạn đọc tiếng Việt là một tuyển dịch hệ thống và cụ thể dòng thơ Séc - Slovakia từ cuối thế kỷ 19 đến nay, qua chừng 40 tác giả tiêu biểu với gần 150 bài thơ.

Trước Do.honza Việt Dũng, ít thấy người dịch tiếng Việt chuyên tâm dịch thơ và giới thiệu cuộc đời, sự nghiệp các thi sĩ Tiệp Khắc. Nếu có, chỉ với một số ít tác giả nổi tiếng (như J. Neruda, V. Nezval) được “quá giang” trong một tuyển chọn nào đó về thơ thế giới. Hai thập niên nay, theo chúng tôi được biết, có 2 dịch giả nối tiếng và chuyên nghiệp đã là chủ nhân của 4 “bộ sưu tập” tiếng Việt cho thơ Tiệp hiện đại: đó là Dương Tất Từ - chuyên gia dịch văn học Tiệp từ 40 năm nay, và Diễm Châu - nhà thơ kiêm dịch giả tiếng Pháp của hàng chục dòng thơ trên thế giới, trong đó có thơ Tiệp Khắc.([2])

Do.honza vốn không phải là dịch giả chuyên nghiệp, chỉ vừa chính thức gia nhập làng văn Việt Nam vài năm nay. Nhưng việc dịch thơ Tiệp Khắc trong anh lặng lẽ cả chục năm rồi, với lòng yêu đất nước, văn hóa và con người Tiệp Khắc mê đắm. Vị Đại sứ Cộng hòa Séc tại Việt Nam, ông Martin Klepetko từng nói: “Gọi Do.honza Đỗ Ngọc Việt Dũng là người Việt hay người Czech đều được.”
Đọc dịch phẩm này, chúng ta thấy văn hóa và thi ca Séc đã vào anh sâu, nhuyễn. Lời ý thơ được chuyển dịch trầm bổng bám theo nhịp điệu thơ Việt mà vẫn du dương dẫn bạn đọc đến tinh thần của nguyên bản. Vì người dịch chủ trương phá thi điệu thơ Séc nên độc giả hay gặp phải các chỗ bí vần thơ Việt. Để khắc phục điểm yếu tất yếu đó, Do.honza như đã tìm ra sự thông đồng giữa hai ngôn ngữ Việt-Séc vốn rất khác nhau về gốc gác, cũng như sự giao thoa giữa hai tình cảm dân tộc vốn không trùng nhau về phong độ. Anh đã khiến chúng ta cảm nhận được thơ Tiệp Khắc trong từng tác giả, trào lưu, thời kỳ. Ở đây, điểm nhìn của người dịch không thuần túy từ một người Việt rành tiếng Tiệp. Đọc một vài bài hay toàn tập sách này, có thể ai đó khác thị hiếu hoặc khắt khe khi thẩm định thơ chuyển ngữ, song tôi tin là họ đã thấy vẻ đẹp và sự ẩn mật của cái gọi là thi ca.
Trên bình diện quốc gia, Tuyển tập đang làm cho hai Nàng thơ của hai đất nước trở thành bạn hữu thật sự. Đang mang tới các bạn yêu thơ, những người làm thơ và quan tâm đến thơ, trong đó có tôi, một địa chỉ đầy ý nghĩa về văn hóa và hữu ích về nền thơ Tiệp Khắc trong 100 năm qua.

Nhân ngày 2/9 vừa qua trên truyền hình VTV4 vị Phó Đại sứ Cộng hòa Séc tại Việt Nam, Karel Šrol cho biết bản thân ông và Bộ ngoại giao Séc trong khi theo dõi văn hóa Việt-Séc chưa thấy ai vừa đủ tiếng Séc lại có khả năng thơ hòa nhập đến thế. Và như trong bài tựa cho cuốn sách, nhà nghiên cứu Việt học Ondřej Slówik Nam nhận định: “Quyển sách Tuyển tập thơ Séc & Slovakia do bác Honza dịch là một tác phẩm rất đặc biệt tổng quát thơ ca bằng tiếng Tiệp từ thế kỷ 19 đến nay. Kể tới bây giờ, chưa bao giờ có người Việt nào dịch thơ Tiệp kỹ như thế này.”

Trong bài bạt cho một tuyển dịch khác, chúng tôi đã mạn phép đề xuất một loại barem dịch thơ: “Nếu dùng ba tiêu chí Tín, Đạt, Nhã từng rất thân thuộc và khả dụng trong dịch thuật, nhưng theo hai hướng đi ngang và đi lên Tín --> Đạt --> Nhã, ta tạm cho rằng: Tín là đúng nội dung và văn bản của bài thơ cùng phong cách, ngôn ngữ của nhà thơ (Tín: 6-7 điểm). Đạt là truyền thi cảm và chuyển hóa ít nhiều nhịp điệu (Tín + Đạt: 7-8 điểm). Nhã là như một tác phẩm thơ của ngôn ngữ đích (Tín + Đạt + Nhã: 9-10 điểm).”
Theo cách đó, và dù không có khả năng đọc nguyên tác tiếng Séc - Slovak, chúng ta có thể cho rằng người chuyển ngữ Do.honza đã chọn cách dịch Tín mà vươn tới Đạt trong sự cố gắng rất cao để có Nhã. Hầu hết các bản dịch trong tuyển tập đều có nội dung của vấn đề thơ và đạt tính thơ về nghệ thuật.

Như vậy, Tuyển tập thơ Séc & Slovakia là ấn phẩm nhiều ích lợi. Hữu ích là tiêu chuẩn cao nhất cho các tác phẩm tuyển chọn.

“Các nhà thơ - chính là người định hình ý thức dân tộc của chúng tôi.”

Đó là quan điểm của J. Seifert từng sáng rõ trong Diễn từ Nobel Văn chương 1984([3]). Chúng tôi xin trích dẫn hơi dài, bởi khó có thể ngắn hơn nếu muốn hiểu người Séc nói về mình, về thơ ra sao:

“Nhiều người, nhất là người nước ngoài, thường hỏi tôi: làm sao có thể giải thích tình yêu lớn lao mà dân tộc chúng tôi dành cho thơ ca; làm sao ở chúng tôi có thể tồn tại không chỉ lòng quan tâm đến thơ ca, mà là cả một nhu cầu đối với thơ ca. Có lẽ, chỉ có thể giải thích rằng đồng bào tôi có một năng lực hiểu thơ ca lớn hơn bất cứ dân tộc nào khác. Theo tôi nghĩ, đó là một hệ quả của lịch sử dân tộc Séc chúng tôi trong suốt 400 năm qua, và đặc biệt là sự phục sinh dân tộc của chúng tôi vào đầu thế kỷ 19. Việc mất độc lập về chính trị trong thời kỳ Chiến tranh ba mươi năm đã khiến dân tộc chúng tôi bị mai một thành phần tinh hoa nhất về tinh thần và chính trị của mình.”
“Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ 19, cuộc Cách mạng Pháp và thời kỳ Lãng mạn đã khai mở trong chúng tôi những nguồn xung lực mới, khiến dân tộc tôi một lần nữa lại quan tâm đến những lý tưởng dân chủ, đến ngôn ngữ và văn hóa của mình.”; “Thơ ca là một trong những thể loại văn học đầu tiên của chúng tôi được hồi sinh.”;

“Ðiều đó giải thích sự tôn sùng ở nước tôi đối với thơ, và uy thế cao vời mà suốt trong thế kỷ trước người ta vẫn gán cho thơ. Nhưng không phải chỉ trong thế kỷ trước thơ mới đóng vai trò quan trọng. Thơ cũng nở rộ huy hoàng cả vào đầu thế kỷ này và trong thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến, qua đó trở thành phương thức quan trọng nhất để biểu hiện nền văn hóa dân tộc của chúng tôi trong Thế chiến thứ hai, thời kỳ mà nhân dân chịu nhiều thống khổ và chính vận mệnh dân tộc chúng tôi ngàn cân treo sợi tóc.
Mặc cho mọi hạn chế từ bên ngoài, mặc mọi thứ kiểm duyệt, thơ đã thành công trong việc tạo lập những giá trị mang đến cho con người niềm hy vọng và sức mạnh. Cả sau chiến tranh - 40 năm trở lại đây - cũng vậy, thơ chiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống văn hóa ở nước tôi. Dường như sứ mệnh tiền định của thơ, thơ trữ tình không chỉ là nói với con người một cách gần gũi nhất, một cách thân thiết đến cùng cực, mà còn là nơi ẩn náu sâu thẳm và an toàn nhất của chúng tôi, nơi chúng tôi tìm sự cứu rỗi trong những nghịch cảnh mà thậm chí đôi khi chúng tôi không dám tìm tên gọi.”;

“Các nhà thơ, các nhà trữ tình chính là người định hình ý thức dân tộc của chúng tôi, nói lên khát vọng dân tộc của chúng tôi trong những thời đại đã qua và vẫn đang tiếp tục định hình ý thức đó cho mãi đến ngày nay. Dân tộc tôi đã quen hiểu mọi sự thông qua cách trình bày của các nhà thơ.”

Người Việt, thơ Việt - hơn ai hết, hơn gì hết - rất đáng ký tên chung dưới những dòng chữ máu và hoa đó!

Các khuynh hướng thơ Tiệp Khắc

Trong Tuyển tập có gần đủ các trường phái, trào lưu trong sáng tạo nghệ thuật thơ hiện đại thế giới: Lãng mạn, Tượng trưng, Hiện thực, Siêu thực, Hiện sinh, Vô sản, Hiện thực xã hội chủ nghĩa… Cho dù đa số các tác phẩm được chọn mang giai điệu trữ tình và dịu dàng tưởng như thuần cổ điển. Cho dù với một số tác giả ở hẳn trong các khuynh hướng siêu thực, tượng trưng nhưng cũng được chọn các tác phẩm và được diễn dịch “trữ tình hóa” theo phong cách truyền thống vốn là sở trường của người dịch.
Khác hẳn với thơ Mỹ - Canada, với sự tiến triển đều đặn của mình thơ châu Âu từ cuối thế kỷ 19 đến nay là loại thơ dễ đọc với độc giả Việt Nam vốn từng tiếp nhận trực tiếp thơ hiện đại từ “lò” thơ Pháp. Thơ Tiệp Khắc là tiêu biểu của nền thơ châu Âu trong vẻ thân thiện về tư duy và đậm cảm xúc về ý niệm.

Phần tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp văn học của các tác giả được trình bày kỹ càng, đa dạng. Cả về dung lượng lẫn nội dung đều có thể xem như phần độc lập của cuốn sách. Có không ít tiểu sử tác giả (như O. Březina, J. Neruda, K. Hlaváček) được giới thiệu như các bài tổng quan xinh xinh. Gần 40 chân dung thơ là cả xã hội, chính trị, văn hóa Tiệp Khắc trong một thế kỷ được thu nhỏ.

Qua Tuyển tập, độc giả thấy nổi trội nhất là dòng thơ trữ tình Tiệp Khắc bao gồm ảnh hưởng từ trào lưu Lãng mạn “gốc” cho đến mọi phong cách lãng mạn sau đó cho đến nay. Vì thế có thể gọi đây là tập thơ tình yêu.
Khuynh hướng thứ hai từng làm nên sức mạnh và vị trí thơ Tiệp Khắc trên trường quốc tế là dòng thơ Tượng trưng, được nảy sinh và phát triển đồng thời với trào lưu chung của Pháp và thế giới hồi cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Với nhiều tên tuổi nổi danh thế giới như: O. Březina – “được xem là một trong những hiện tượng lớn nhất của thơ ca thế giới”([4]), rồi đến J. Vrchlický, S. Antonín, K. Hlaváček…
Khuynh hướng siêu thực Séc có hai người “khổng lồ” dẫn đầu là V. Nezval, J. Neruda. Chủ nghĩa lãng mạn hồi sinh có K. Erben là đại diện. Mạch thơ Ngôn ngữ tạo hình mới có tên tuổi lớn là V. Holan. Khuynh hướng Hiện sinh với O. Fischer, J. Kainar… Nền thi ca vô sản qua J. Wolker là đại diện tài ba nhất. Dòng thơ đương đại Tiệp Khắc với các tên tuổi: M. Válek, J. Simon, J. Žáček, V. Hrabě, H. Krchovský… Dường như chỉ còn khuynh hướng Hậu hiện đại là không có mặt, nếu không tính P. Horáková mang đôi chút tâm thức sáng tác ngoại biên hóa.
Do tính chất đối lưu của các thi pháp nên không chỉ ở thơ Tiệp Khắc việc xếp đặt tác giả vào các trường phái luôn luôn bị bấp bênh, trừ một vài trường hợp rõ rệt. Danh sách trên chỉ tiện dụng cho các độc giả đang làm quen với thơ Séc - Slovakia.

Thơ Tiệp Khắc nói gì

Không có nhiều đề tài qua thơ được chọn vào Tuyển tập. Người biên soạn có thiên hướng tình yêu (nam nữ, tổ quốc, gia đình), về thiên nhiên, về sự sinh tồn và nhân sinh... Chúng ta phần nào nhận ra, trong thể trữ tình, thơ Tiệp Khắc nghiêng về diễn tả sự việc đời thường với cảm xúc nhẹ, lắng. Tình tứ không mạnh mẽ, thê thiết như thơ tình của Nga. Không dữ dội và sắc cạnh như thơ Đức. Không cụ thể, triết lý thoáng hài hước như thơ Ba Lan... Chất lãng mạn Tiệp Khắc có lẽ dựa trên cảm xúc tương lai mà không quên trực giác hiện tại khi nhìn về cổ điển? Thơ là người. Thơ Tiệp Khắc thể hiện bản tính người Tiệp Khắc an hòa, dễ tính, có phần giản dị; biết lánh đau thương để tìm chỗ tồn tại.
Dù ở thời kỳ, khuynh hướng nào, tạng thơ trong Tuyển tập quả là theo phương châm: “Thơ không viết ra để các nhà thơ và nhà phê bình văn học tiêu thụ với nhau trong một cái nồi úp kín mà ở đó cái gì đó đang lên men mốc giống như Viện hàn lâm Pháp… Thơ viết ra dành cho bạn đọc”. Đúng như nhận định của Seifert nêu ở trên: “Dân tộc tôi đã quen hiểu mọi sự thông qua cách trình bày của các nhà thơ.”

Tuyển tập như một “tập đại thành” xinh xắn về tình cảm và tình yêu của người Séc -Slovakia để bạn có thể tin cậy dùng làm quà tặng trong Ngày lễ tình yêu. Và viết đậm lên đó câu thơ của khôi nguyên Nobel văn học 1984 Jaroslav Seifert từng thảng thốt: “Nàng thơ muôn năm, tình yêu muôn năm!”

Các nhà thơ Tiệp Khắc - Ai là ai…

Tuyển tập là chân dung kép về các thế hệ trữ tình Tiệp Khắc dọc thế kỷ qua. Một bức ảnh chung của đại gia đình các tác giả thơ hiện đại Séc - Slovakia (dù phần Slovakia còn rất ít ỏi). Mỗi người mỗi kiểu thơ, và đều là thơ Tiệp Khắc chính hiệu. Không lẫn được. 
Bằng tình yêu chân thành và sinh động, Do.honza Việt Dũng đã chọn lựa giữa cả ngàn được gần 40 nhân vật cùng hành trang ngôn ngữ Séc - Slovakia của họ, để mời họ “nhập tịch” vào xứ sở Việt Nam trong tiếng Việt đáng yêu này.
Đây cũng là lần đầu tiên, độc giả đại chúng cũng như giới văn học chuyên nghiệp Việt Nam có được một tuyển chọn tiểu sử văn học cùng đôi nét đời thường của các đại diện thi ca hiện đại Tiệp Khắc. Trong đó có một số tên tuổi lừng lẫy và đa số là những tác giả làm nên một nền văn hóa xuất sắc nhưng chưa có dịp được biết tới ở Việt Nam.

“Bàn về thơ, tuy cần chú trọng về quy cách, nhưng làm thơ thì phải gốc ở tính và tình.” Chu Thần Cao Bá Quát bảo vậy, từ xưa. Tính và tình ở mỗi thi sĩ Séc - Slovakia có thể thấy phần nào qua tiểu sử văn học. Để minh họa cho tính và tình trong thi phẩm đi kèm.
Cũng như trong mọi xứ thơ khác, mỗi thi sĩ Tiệp Khắc là mỗi mảnh đời tư và gia thế, mỗi nghề nghiệp và quan điểm. Như người thường, họ đều có sự sống cái chết không ai giống ai. Trong xã hội Tiệp Khắc thế kỷ 20 với quá nhiều thăng trầm, nhiều người an lành suốt đời với dòng văn nghệ chính thống; lắm kẻ chọn vị thế loài lề trọn kiếp; cũng nhiều vị giao lưu trung tâm - ngoại vi. Cái quý của họ là luôn trong tư cách thi sĩ, tác phẩm của họ có tên chung: thi ca Tiệp Khắc. Dẫu có nơi có lúc bị dập vùi. Đúng nghĩa, họ là những người thơ, của một đất nước thơ.

Mời bạn đọc ngắm nhanh lại các nét mặt sáng rỡ giữa những người thơ đó, trước khi thưởng thức lại một số sáng tác thi vị nhất của họ.

Vítězslav Nezval (1900-1958): “Nhà thơ Séc có tên tuổi, nhà văn và nhà biên dịch, đồng sáng lập viên Chủ nghĩa thơ ca và là nhân vật đứng đầu chủ nghĩa Siêu thực (Surrealismus)”. Với người viết bài này, trong thuở đầu đời khi vừa biết thơ tình và biết yêu đã may mắn được đọc bài thơ nức danh Nezval qua bản dịch “dịu dàng quá, dịu dàng không chịu nổi” của thi sĩ kiêm dịch giả tài hoa và tinh tế là Tế Hanh: bài Lời từ biệt và chiếc khăn. Dạo đó với tôi thơ Tiệp là Nezval, là Lời từ biệt và chiếc khăn. (Xem tiếp phần sau).

Jan Neruda (1834- 1891): “Nhà thơ nổi tiếng Séc và nhà báo của thế kỷ 19”; “Có cuộc đời cảm thấy không được đánh giá và từ đó phát triển theo hướng quan hệ tiêu cực với mọi người. Ông có vấn đề với rượu. Phần lớn cuộc đời sống trong khó khăn.”; Thơ Neruda chứa đầy những hoài nghi và bi quan, mà đôi khi đi vào các giới hạn của thuyết hư vô.” Bạn có biết? Một thi nhân người Chile, khi chưa thành thiên tài thế giới đã quá mê Jan Neruda của Tiệp Khắc mà chọn bút hiệu là Pablo Neruda!

Otokar Březina (1868-1929): “Nhà văn, nhà thơ Séc; bằng công trình thơ của mình ông đã hoàn thiện chủ nghĩa hình tượng Séc dẫn tới sự chuyển biến chung của văn học Séc.”; “Điều thú vị là ông đã 7 lần được đề cử (1916, 1917, 1918, 1920, 1921, 1925, 1928 và 1929) giải Nobel về văn học.”; “Những thử nghiệm tác phẩm văn học đầu tiên của ông trong các năm 1883-1887 thuộc nhóm giá trị khó nhất của chủ nghĩa hình tượng văn học châu Âu.”

Jiří Wolker (1900-1924): “Nhà thơ, nhà báo và nhà viết kịch người Séc; một trong những thành viên sáng lập Đảng Cộng sản Séc năm 1921.”; “Là người đại diện tài năng nhất của nền thi ca vô sản.”; “nhìn thấy một thế giới đầy mâu thuẫn, trái ngược, thế giới của đói nghèo và đau khổ, cần được thay đổ”; Wolker trong linh cảm trước cái chết gần kề đã tự viết dòng chữ để khắc lên mộ mình: ‘Nơi đây yên nghỉ Jiří Wolker, nhà thơ, người từng yêu thế giới và cho sự công bằng của nó mong muốn đấu tranh, nhưng trước khi có thể tuốt trái tim của mình ra chinh chiến, anh chết trẻ ở tuổi hai tư!“

Jaroslav Seifert (1901-1986): “Nhà thơ, nhà văn, nhà báo, biên dịch Séc; đồng sáng lập viên Chủ nghĩa thơ ca”; “học nhiều trường trung học nhưng không tốt nghiệp vì hay bỏ học. Trong thời gian đó ông lang thang đến các quán bia Praha sáng tác thơ để đổi lấy bia.”; “Trong những năm 1920 được đánh giá là đại diện chính của nền nghệ thuật tiên phong Tiệp Khắc. Tháng 3 năm 1929 cùng 6 nhà văn thơ hàng đầu khác của Đảng bị khai trừ khỏi Đảng cộng sản vì đã ký vào Manifest sedmi (Tuyên ngôn bảy người) phản đối việc bolševich hóa trong lãnh đạo mới của Đảng cộng sản Tiệp Khắc.”; “1968-1970 là Chủ tịch Hội nhà văn Tiệp Khắc. Năm 1976 nằm trong những thành viên đầu tiên của Hiến chương 77.”; “Năm 1984 được trao Giải Nobel về văn học”.

Miroslav Válek (1927-1991): “Nhà thơ Slovakia, ký giả, nhà biên dịch, người tổ chức văn hóa, nhà chính trị, người đại diện có tên tuổi của thi ca hiện đại Slovakia”;“1969-1988 là Bộ trưởng Văn hóa”; “1989 là Chủ tịch Hội nhà văn Tiệp Khắc”; “tự nguyện rời bỏ chính trị trước tháng 11/1989.”

Vladimír Křivánek (1951-): “Nhà thơ, nhà văn, sử học, nhà phê bình, giáo sư đại học, biên tập và dịch giả”; góp phần kiến tạo và chỉnh sửa bốn tuyển tập hàn lâm ‘Lịch sử Văn học Séc 1945-1989 in sách bằng tiếng Bulgary, Ba Lan và Việt Nam.”; “2008-2011Chủ tịch Hội Nhà văn c.”

Petra Horáková (1986-): “Giáo viên giảng dạy nghệ thuật cho trẻ em và thanh thiếu niên, giám đốc chi nhánh của tổ chức phi lợi nhuận đồ họa và vẽ tranh tại Plzeň.”

Và, độc giả có nhận ra không: trong các thi sĩ tham dự Tuyển tập, số nữ sĩ nổi danh như Petra Horáková rất ít ỏi. Chẳng lẽ Nàng thơ Tiệp Khắc chỉ “yêu” phái mày râu?

Hoa Tiệp đất Việt

Trong “công viên hoa” Tiệp được nở mọc trên đất Việt hơn nửa thế kỷ qua, “vườn hoa” Do.honza Đỗ Ngọc Việt Dũng vừa xuất hiện, đang còn hiếm hé ra các đóa thật đặc sắc nhưng đã cống hiến cho khách làng hoa một dung nhan hiền hòa, thanh lịch và đa sắc.
Mời độc giả cùng thưởng ngoạn các bông-hoa-thơ Tiệp mà chúng tôi cho là đẹp nhất từ đây…

Trong dịch thuật không thể chỉ có một con đường, một đích đến. Thêm lần nữa, xin ví von về việc dùng tiêu chí Tín - Đạt - Nhã khi dịch chuyển các loài giống hoa-văn-học đến xứ sở có đất có nước khác hẳn mà vẫn gìn giữ được Dáng - Sắc - Hương của chúng.
Do.honza đã linh hoạt áp dụng định nghĩa của Fyodorov thường được nhiều người chấp nhận: “Dịch là chuyển đạt một văn bản từ một ngôn ngữ này (nguồn) sang một ngôn ngữ khác (đích) một cách trung thành trong chừng mực có thể, cả về nội dung lẫn về hình thức.” Với hầu hết các văn bản, anh đứng ở giữa tác giả và độc giả, giữa ngôn ngữ Việt và ngôn ngữ Séc. Tức là, không tái sáng tác đưa bài thơ tiếng Séc đến một đời sống Việt; mà cũng không duy trì nghiêm ngặt nguyên tác từ nhịp điệu (cái bất khả trong dịch thơ) đến ngôn ngữ, phong cách. Với vị dịch giả Séc-Việt này, dịch là bắc cầu, là sáng tạọ; người dịch không hẳn là đồng tác giả mà thường là “dấu phẩy của tác giả”. Song, cũng như nhiều người dịch khác, không hiếm khi Do.honza vẫn thử tài vận may khi lao vào hai thái cực mà ngay các bậc cao thủ cũng phải nhắm mắt chờ sự bất ngờ của thành tựu. Bùi Giáng tiên sinh là hiện tượng rõ nhất. Chính tính “phập phù” đã làm cho bộ môn dịch thuật trở nên nghệ thuật hơn, như ở lãnh vực sáng tác.

Trước tiên là bản dịch thú vị nhất trong Tuyển tập:
Đó là bài Bài ca (Chim đưa thư) của Seifert được in trang trọng nơi bìa cuối với bản chuyển sang thể lục bát. Bên trong sách cùng bản này còn có 2 bản ở thể 5 và 7 chữ. Duy nhất của Tuyển tập, một bài thơ có tới 3 bản dịch. Vì sao? Vì là bài thơ hay trước đó nhiều người đã dịch. Vì tác giả là chủ nhân Giải thưởng Nobel danh giá. Vì cùng “gu” với dịch giả; v.v…
Bạn hãy đọc lại thi phẩm Bài ca qua 4 bản dịch tiếng Việt nữa, từ 4 dịch giả khác([5]): Dương Tất TừLương Duyên Tâm trực tiếp từ nguyên bản tiếng Séc; Diễm ChâuThân Trọng Sơn qua bản dịch tiếng Pháp. Dương Tất Từ chọn cách dịch trung dung theo quan niệm chuẩn của Fyodorov. Ba vị còn lại đều theo xu hướng chung thủy với nguyên tác không chỉ về nội dung, ý nghĩa cả về nhịp vần và nhất là cấu trúc trong thể thơ tự do. Cả 4 bản dịch đó, vì thế, có điểm chung thường được coi như một tiêu chí: đọc biết ngay là thơ dịch.
Do.honza như cố tình khác những người đi trước khi đã chọn 3 thể vần điệu đặc thù Việt. Và rồi anh “thành chính quả” ở thể Việt tính nhất: lục bát. Chưa so sánh nguyên tác, chỉ so với 6 bản dịch kia ta cũng thấy rằng, với bản lục bát người dịch đã tập trung vào nhu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch và thêm bớt, xô lệch nguyên tác. Bản dịch bài Bài ca của Seifert đã làm sang giá cho lục bát Việt. Đó cũng là một “bài thơ” mới và hay, đứng cạnh bài thơ cũ đã hay rồi. Thi ca Đông và Tây gặp nhau tại đây!
Bàn thêm:
+ Hỡi những ai đã từng ly hương rồi hồi hương, nếu không khóc ra nước mắt thì cũng nén vào máu mủ hai câu sáu-tám này: “Cùng bao tuyệt vọng trên đời/ Ta hồi hương trở về nơi quê nhà”. Cảm ơn Do.honza Việt Dũng! Cảm ơn Jaroslav Seifert! Ai đã khóc đã nén nhiều hơn ai? Trong chúng ta…
+ Tôi yêu bản lục bát Do.honza. Tôi thích bản Diễm Châu. Tôi quý bản Dương Tất Từ.
+ Ba bản của Do.honza mang 3 cung bậc khác nhau ở cùng một trạng thái. Hai bản kia chưa nhuyễn về nghệ thuật thơ, nhất là bản 7 chữ còn vài chỗ gượng. Hồn vía “bài thơ” tiếng Việt của bài thơ Bài ca nguyên tác tiếng Séc đã về hết bản lục bát rồi!
+ Trong Tuyển tập, còn một bản dịch lục bát nữa (bài Khoảng cách yêu thương của Wolker). Cũng là một bài thơ mới trong tiếng Việt. Lời nhuần nhụy nhưng chưa được như bài Bài ca; có lẽ do nguyên tác chưa là một bài thơ hay? Mà cũng khó đoán biết, dịch là “phập phù”.

Bài Vĩnh biệt và chiếc khăn tay của Nezval:
Vẫn với chủ thể chiếc khăn vẫy trong chia lìa. Đấy từng là thơ tình nằm lòng của kẻ viết bài này, với tên Lời từ biệt và chiếc khăn([6]). Thời đó, bài thơ nằm trong luồng lãng mạn tuyệt vời trôi đến Việt Nam từ trời Âu tân tiến và cuốn hút. Nó ngây ngất đi vào sổ chép thơ của đủ lứa tuổi, tầng lớp để rồi xuất hiện trên báo chí, tuyển tập thơ. Tiếng ngâm lời đọc thổn thức trong các cuộc họp, các buổi chia tay, các đêm cuối cùng… giữa một đất nước phải lâm chiến từng ngày rồi lại hậu chiến trong xung đột biên giới tứ bề. Cái quý nhất là ở chỗ, Lời từ biệt và chiếc khăn thuộc vào không nhiều các thi phẩm chính thống mang phong cách ngôn ngữ và sắc thái tình cảm khác nhưng không quá lệch so với các sáng tác “chuẩn”, mà Cuộc chia ly màu đỏ của thi sĩ Nguyễn Mỹ từng làm biểu tượng.
Gần như trung thành với nguyên tác, hai bản dịch có cùng kết cấu và thi điệu. Khí thơ, cú pháp và cách cảm, đọc lên thấy ngay là thơ dịch của phương Tây, nhưng không “Tây gỗ” mà là Tây-Việt! Chữ và câu của bản Do.honza đôi chỗ chưa “lụa” bằng bản của tiền bối nhưng toàn bài đã phả ra tình lứa đôi dưới trời Âu mang hồn nhân loại. Giữ được chất Nezval. Bản của Do.honza mang nỗi đau mạnh, dứt khoát hơn, và từ tâm trạng trai gái với cái Tôi cá thể. Bản của Tế Hanh đã “xã hội hóa” nó trong cái Ta trữ tình rộng khắp.
Hai câu cuối của khổ đầu thú vị đáo để! Ý tứ tinh vi trong nguyên tác được hai dịch giả chuyển sang cung bậc đồng tình nhưng không đồng nghĩa. Do.honza: “Vĩnh biệt em dẫu có hẹn mai đây/ Anh không đến có thể người khác đến.” Lời dịch mượt, bảo toàn ý tứ của tác giả; cho thấy sự khuất phục của anh con trai thua cuộc mà vẫn hào sảng. Tế Hanh: “Từ biệt nhé và nếu còn gặp nữa/ Không phải ta đấy trở lại đâu nào.” Trên cả tuyệt vời! Dịch giả đã dùng tay thơ “lụa” của một thi nhân để bẻ ghi đưa ý tứ sang không gian tình cảm khác. Không chỉ bằng chủ thể Ta, còn dùng cả dạng phủ định. “Không phải ta” của Tế Hanh chính là “người khác” của Do.honza được dịch gần đúng từ “jiný host” (người chủ khác) của Nezval. Giản dị và trong sáng, da diết và đau đớn. “Không phải ta” tức là “địch” rồi, là cái thằng đàn ông khác sẽ thay thế “ta” ngự trị trái tim nàng. Các nam thanh nữ tú, hãy bình thản đón nhận những lời từ biệt, những cái vẫy khăn để lên đường đến với một số phận khác, đang chờ. Thi sĩ Nezval đã khuyên như thế!

Bài Cái chết hát ca của Fischer:
Bản dịch tỏ ra chạy theo kịp với cơn bão từ ngữ và hình ảnh của “nhà phù thủy” Otokar Fischer trong văn học kinh điển châu Âu. Âm điệu thơ là tiếng vọng từ các số phận an bài dưới Đấng tối cao, nhắc độc giả Việt nhớ đến những bài thơ điên của thi sĩ bạc mệnh Hàn Mặc Tử. “Cái chết hát ca soi gương nước rừng hoa (…)/ Cạn máu, chờ khô, dây đàn Chúa ngân nga.” Bản dịch hầu như không có vết nhăn dù phải xử lý tạng thơ truyền thống Séc với nhiều dụng điển.

Bài Hoàng hôn bên biển của Dyk:
Có thể vào danh sách các bản dịch đặc sắc trong trang thơ tiếng Việt đương đại. Một tiểu trường ca dồn dập trong dịu dàng, khốc liệt trong thanh thản. Bài thơ khá dài nhưng đọc không ngại, vì tứ thơ mang tính truyện rất hoàn hảo, kịch tính cao mà vẫn lãng mạn. Người dịch đã dìu chúng ta theo từng cơn sóng thi điệu của Việt ngữ đến với bản sắc văn hóa Tiệp Khắc đập trong mỗi lời mỗi nhịp.“Lớp sóng tám vỗ về và vui vẻ/ Vào mắt em, lên bầu vú trẻ non”. Độc giả Việt Nam được biết thêm một triết lý về sự vượt thắng số phận, về giới hạn cuối cùng của thành bại trong cuộc sống qua biểu tượng trữ tình là “lớp sóng chín”.

Tôi còn yêu thích các đóa hoa thơ Tiệp từ người chuyển giống trồng cây Do.honza, như: Bài Đêm xuân của Březina; Đôi giày - Con người, Phụ nữ, Thân tặng (Neruda); Tình yêu ốm yếu (Holan); Từ điển tình yêu (Nezval); Tiếng Séc; Có thể (Simon); Gọi đường dài (Sýs); Hội Thoại (Seifert); Cô gái dậy thì (Peterka); Vào thu, Có thể anh tự sướng (Horáková); Danh sách (Kainar); Trở lại (Fischer); v.v…

“Chuốt, chuốt nữa, chuốt mãi”; hay là “Mẹ chăm bé gái”

Để Tuyển tập tốt hơn nữa, chúng tôi xin thử nêu một số hạn chế, thiếu sót mà các tuyển tập dịch thuật ít nhiều dính phải trong lần đầu xuất bản.

Dù theo phương cách nào, bản chất của dịch là dịch lại. “Chuốt, chuốt nữa, chuốt mãi…” Có lẽ nên là phương châm đầu tiên.
Lâu rồi, mỗi khi động tới vụ việc dịch thơ lại dựng lên trong tôi hình ảnh một người đàn anh, “bạn thư viện”. Gần như hàng ngày, anh đến Thư viện Quốc gia - Hà Nội. Khi trọn cả ngày, khi chỉ nửa tiếng… Đọc sách, nghiên cứu phục vụ nghề khí tượng thủy văn của anh. Và mỗi lúc giải lao, hoặc chán cái mớ công thức tích phân lằng nhằng, anh lại lôi ra từ túi áo complet, hay túi sau quần, một cuốn sổ tay be bé để dịch… thơ. Vâng, thơ. Thơ Pushkin. Chỉ Pushkin mà thôi. Anh dịch hàng trăm bài; giống một người dịch chuyên nghiệp nào đó. Khác, mỗi bài đều dịch ngót chục lần; với các bài “đinh” thì hàng chục lần. Cứ vậy hàng năm, hàng năm… Có đôi kỳ giáp Tết, sau Tết, thư viện hóa thành chùa Bà Đanh. Vẫn thấy anh ngồi đấy, cúi xuống Pushkin của tiếng Việt. Dạo đó tôi nghĩ rằng, có thể hiểu anh phần nào và không thể hiểu nổi cuốn sổ nhỏ của anh. Giờ thì ngược lại. Không hiểu anh. Hiểu cuốn sổ nhỏ như một vật được anh dùng để trau chuốt bản dịch.
Cũng dạo đó mẹ tôi thì bảo anh ấy vuốt ve bản dịch như bà mẹ Việt Nam chăm sóc bé gái của mình; từ phút lọt lòng đến ngày bé thành con gái, từ ngày bé lên xe hoa đến ngày bé sinh con của bé, rồi đến ngày con bé thành con gái, rồi lên xe hoa…
Đầu thế kỷ trước bậc thi bá Tản Đà đòi hỏi “Lời văn chuốt đẹp như sao băng”. Đa phần cánh sáng tác giành đặc quyền chuốt tùy hứng tùy tính. Chứ dân dịch thuật không chuốt, e không ổn. Cả khi bản dịch đã xuất bản, đã nổi tăm vang tiếng.

Ngoài việc chuốt lời, tôi còn thấy Tuyển tập cần được chuốt bài nữa. Tức là cần tinh tuyển tác giả, tác phẩm hơn. Thêm người cần thêm, bớt bài cần bớt… Các hợp tuyển là vậy, cứ lọc ra lựa vô hoài hoài…

Đọc Do.honza dịch, tôi liều mà đồ rằng anh dịch-bài theo quan niệm chân phương của Fyodorov, còn dịch-chữ thì theo kiểu phóng túng “dịch thơ giống như làm thơ”. Thế là hài hòa. Dịch giả tự chọn phương cách riêng, miễn sao có bản dịch đáng là bản dịch. Có điều, kiểu dịch chữ đó không có thao tác dấm dứ, nhấc lên hạ xuống. Tôi vẫn hằng tin, dịch thơ ẩn trong mình nó một hành trình các chuỗi ngập ngừng. Có những tiểu-ly-âm, tiểu-ly-từ đã nuôi sống cả một bản dịch thơ. “Đấy” và “đâu” là các tiểu ly âm, tiểu ly từ như thế trong câu thơ dịch của Tế Hanh. “Không phải ta đấy trở lại đâu nào”. Dịch, không còn là diệt là giết theo cái nhìn hà khắc nữa! Trong Tuyển tập tôi cũng đã tìm được một số trường hợp, mà chưa đáng kể.
Nếu thơ là dòng suối tuôn trào tự nhiên thì dịch thơ là đài phun nước có điều khiển ở đâu đó mà những kẻ dạo bước trong khuôn viên thi ca khó nhận ra. (Trong rừng thơ dịch trên trái đất này, chắc chỉ có Trung niên thi sĩ là dịch như thác lũ!) Nếu thi sĩ là kẻ hành pháp, là ngài bộ trưởng, là vị tướng quân phóng tay thực hành một sắc lệnh, một chiến dịch thì giới dịch giả như hệ thống tư pháp, như quan tòa phán xét, chuyển hóa các thực thi công lý của ngôn từ và tình cảm con người.

Phần tiểu sử chân dung tác giả cũng còn không ít chỗ cần hoàn thiện; như dẫn nguồn tư liệu, nhuận sắc ý, câu…

Điều nữa, lẽ thường tình, ông chủ nhà hàng nào thực đơn nấy. Tuyển tập phải thuộc về thị hiếu của Do.honza Đỗ Ngọc Việt Dũng, người dịch - biên soạn và cũng là nhà thơ song ngữ Việt-Séc tham gia vào đấy như tác giả của 4 sáng tác về tình ái, khát vọng sống. Phong cách trữ tình khiến bộ sưu tập thiếu vắng các thi phẩm bừng lên những biến động khi gai góc nhân quần, lúc sinh tử chiến tranh của xã hội và con người Tiệp Khắc suốt thế kỷ qua mà bài Diễn từ Nobel của Seifert nêu trên đã gióng giả như những lời cuối cùng còn có thể nói ra được. Trong tập sách, 4 bài thơ của Seifert (Bài ca, Biển, Chiếc nhẫn mẹ để lại,Hội thoại) ca tụng tình yêu, hạnh phúc qua những chân lý nhân bản và quả là chưa hết tầm thi nhân, như vinh danh của Viện hàn lâm Thuỵ Điển và đánh giá của dư luận văn giới. Các bài thơ thời cuộc, chính trị của ông từng “mô tả hình tượng rành mạch của tinh thần và sự đa dạng không thể khuất phục của con người”, và “mang ý thức độc lập, biết dùng ngôn ngữ thơ ca làm vũ khí hữu hiệu để đấu tranh vì nền độc lập cho Tổ quốc Séc”.

Làm bạt

Nhiều năm trước, tôi từng có bài thơ Làm bạt cho đời - để nói bao nhiêu dòng thơ của đám thi sĩ chúng ta nếu như được đời cho phép cùng dự phần, thì may lắm là làm lời bạt cho pho-sách-cuộc-đời.
Nay tôi đang có hãnh diện nho nhỏ được làm “trang bạt” cho người đồng nghiệp - người anh em, dịch giả Do.honza Đỗ Ngọc Việt Dũng, trong một dịch phẩm nồng thắm về tình cảm, cao cả về ý tưởng và đáng giá về nội dung: Tuyển tập thơ Séc & Slovakia của Nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2014.


Vancouver, mùa thu 2014
Đỗ Quyên






[1]) Sẽ được gọi tắt là Tuyển tập ở nhiều chỗ trong bài.
[2]) Dương Tất Từ có 2 dịch phẩm thơ: tập Thành phố tội lỗi - thơ Tiệp Khắc thế kỷ 20, NXB Thế Giới, 2000; và Seifert: Làm thi sĩ, tuyển thơ và hồi ký, NXB Văn Học, 2007. Diễm Châu có tập Thơ Vladimír Holan, NXB Trình Bầy, 1992; và nhiều thơ dịch từ một số nhà thơ Tiệp Khắc đương đại, như J. Seifert, A. Bartušek… Có thể kể thêm dịch giả quen thuộc khác của văn học Séc là Lương Duyên Tâm, và gần đây là dịch giả Thân Trọng Sơn.
[3]) Jaroslav Seifert: Về trạng thái bi tráng và trạng thái trữ tình của tâm thức; Trần Tiễn Cao Đăng dịch từ tiếng Anh, vietbao.vn 13/11/2007.
[4]) Các câu in nghiêng trong dấu ngoặc kép là trích từ Tuyển tập thơ Séc & Slovakia.
[5]) Bản dịch của Dương Tất Từ tại nguoibanduong.net 2/2/2009; Diễm Châu: tienve.org; Thân Trọng Sơn: vanviet.info 25/7/2014; và Lương Duyên Tâm: luongduyentam.blogspot.ca 8/3/2014.
[6]) Tế Hanh chuyển ngữ qua bản dịch tiếng Pháp: thivien.net 17/4/2008