Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện ngắn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2021

CON HEO ĐẤT

                   
  *     
Thấy bác Tư xách cái giỏ đệm đi chợ để mua sắm đồ Tết, thằng Hoàng từ trong bếp  chạy ra sân nó đưa tay níu cái giỏ rồi nói với bác Tư: 
 -Má đi chợ nhớ mua đồ cho con mặc Tết nghe má, quần áo con cũ mèm hết rồi, Tết mà không có đồ mới thì buồn lắm.   
Nghe thằng Hoàng nói vậy bác Tư lấy tay xoa lên đầu nó rồi bác nói:   
-Má cũng tính mua hà tiện chừa tiền để mua cho con một bộ đồ mặc Tết, nhà mình nghèo nên thiếu trước hụt sau con ơi.  
Nghe bác Tư nói vậy, thằng Hoàng  kéo bác Tư đi về phía căn buồng bên trong nhà rồi nó nói: 
 - Má chờ con một chút, con có cái này phụ với má mua đồ Tết nè.   
    Bác Tư ngạc nhiên vô cùng, vì thằng Hoàng tuổi ăn chưa no lo chưa tới thì nó lấy cái gì để phụ với mình mua đồ Tết nên bác Tư hỏi nó:  
- Hoàng nè, con nói phụ với má là phụ cái gì, tiền bạc ở đâu con có, cha chả có làm gì quấy hông mà có tiền (dậy) ông con?  
    Không trả lời liền cho bác Tư, thằng Hoàng nhanh tay  lật cái rương bằng gỗ ra, nó khệ nệ ôm con heo đất để lên bàn rồi nó hí hửng nói với bác Tư :  
-Đây gia tài của con nè, con không có mần gì bậy bạ đâu má ơi, tiền ba cho con đi học, con không có xài con bỏ hết vô ống heo, chắc cũng khá lắm rồi má.  
   Bác Tư ngạc nhiên vô cùng, bác không ngờ thằng Hoàng lại biết để dành tiền bằng cách này, bác kéo thằng Hoàng vào lòng và hôn lên mái tóc của nó, rồi tự dưng đôi mắt bác đỏ hoe vì xúc động, bác nói :    -Con giỏi ghê má không ngờ con tập tính tốt này từ bao giờ, dậy đó ông bà mình nói tích tiểu thành đại con thấy không, giờ thì muốn mua gì cũng có tiền.  
Thằng Hoàng cười sung sướng vì được bác Tư khen một cách thật tình, nó lấy cây búa đóng đinh của ba nó để đập con heo, bụp..bụp, con heo vỡ toang rồi những đồng tiền xu, tiền cắc rơi đầy trên nền xi măng văng ra tung tóe, Hoàng lấy hai tay lùa những đồng tiền lại rồi bổng dưng gương mặt nó thất thần vì toàn tiền cắc,  tiền giấy thì không còn lấy một tờ, trước tình trạng này nó thảng thốt kêu lên:  
- Ủa sao kỳ vậy cà, sao tiền lẻ không (dậy)? Tiền giấy không còn tờ nào má ơi!  
Bác Tư cũng lấy làm lạ khi nghe thằng Hoàng nói như vậy, nhưng bán tín bán nghi bác Tư gặng hỏi lại nó: 
 -Con có nhớ cho kỹ là có bỏ tiền giấy vô con heo không, bây có nhớ lộn không, nếu con bỏ tiền giấy vô đó thì làm sao mất được .  
Thằng Hoàng tức tối nó nói cho bác Tư biết: 
 - Con có bỏ tiền giấy (dô) rõ ràng, giấy hai mươi đồng, mười đồng, năm đồng, đủ hết má ơi chưa kể giấy một và hai đồng nữa, chắc chắn có ai (dô) nhà mình lấy tiền của con rồi.  
    Nghe thằng Hoàng khai ra những tờ giấy bạc mười và hai mươi đồng, bác Tư hết hồn và đánh dấu hỏi to tướng vì tiền đi học mỗi ngày được giỏi lắm năm cắc bạc, thường thì bác Tư trai cho nó chừng hai ba cắc thì lấy đâu ra thằng Hoàng  lại sở hữu các tờ giấy bạc có mệnh giá lớn như vậy, một là thằng Hoàng  lấy cắp của ai hoặc làm chuyện mờ ám nào đó mới có số tiền lớn kia, bác Tư bắt đầu truy vấn nó: 
 - Hoàng nè, con nói thiệt cho má nghe, tiền đâu con có giấy mười đồng, hai chục, bây khai mau nếu cố tình nói dóc má đánh tróc đít luôn nghe chưa.  
   Nói rồi bác Tư làm bộ giận dữ rút cây roi mây vắt bên vách lá ở hông nhà, bác nhịp nhịp cây roi lên mặt bàn nghe chan chát thấy phát ớn nhằm răn đe thằng Hoàng, thằng Hoàng không ngờ vừa bị mất tiền vừa bị má mình nghi oan mình làm điều bậy bạ gì đó mới có số tiền lớn kia, không muốn má mình hiểu lầm nó khai ra tuốt tuồn tuột :  
 - Dạ thưa má, sở dĩ con có những tờ tiền lớn kia là do ông Năm và ông Bảy ở nhà Cô Ba bán quán cho con đó.  
Bác Tư nghĩ thằng Hoàng cố tình nói dóc để chạy tội và che giấu nguồn gốc những tờ giấy bạc kia, bác Tư gầm gừ :   
-  Mắc chứng gì ông Năm (dới) ông Bảy cho bây số tiền lớn kia, nói thiệt liền không thôi ăn bánh tét nhưn mây nghe con.  
    Điềm tĩnh vì thằng Hoàng biết rõ số tiền kia nó có được do nó làm công cho hai ông hàng xóm, chớ nó nào có làm chuyện bậy bạ đâu mà phải sợ sệt nên thằng Hoàng kể lể : 
  - Má ơi, mấy lúc con với anh Cuộc Mù qua nhà cô Ba quán chơi thì ông Năm với ông Bảy kêu con với anh Cuộc đấm lưng và bóp tay bóp chân cho ông, rồi hai ông cho tiền tụi con, ban đầu hai đứa con không dám lấy vì mỗi khi đến chơi tụi con nằm lên bộ ván ngựa mát cả cái lưng, đã vậy cô Ba quán còn cho bánh ăn chơi nữa, khi hai ông nhờ tụi con đấm bóp mà lấy tiền coi sao đặng, nên con và anh Cuộc mù không lấy tiền, ông Năm và ông Bảy giận nói nếu cho tiền không lấy thì không cho qua nhà chơi nữa, ông Năm nói riết tụi con đành lấy tiền rồi để dành thành ra nhiều lắm đó má. 
 Nghe thằng Hoàng nói vậy bác Tư thở phào nhẹ nhõm, rồi bác tiếc nuối :
  - (Dậy) là mất tiền thiệt rồi, ai cả gan vô nhà mình  lấy tiền của bây, mà cũng kỳ nếu trộm thì nó rinh luôn con heo mất đất rồi, chứ mắc gì mà nó chừa lại cho bây tiền cắc kia chứ.    
Câu hỏi lởn vởn trong đầu, của bác Tư và thằng Hoàng trùng khớp với nhau, họ nghi vấn ba người có thể là thủ phạm, trong đó gồm một người lớn và hai thằng nhóc tì trong xóm.
                                                                               ***
  Bà Năm là người mà hai má con bác Tư đặt nghi vấn nhắm tới, bà thường ghé nhà bác Tư chơi, bà Năm cũng hoàn cảnh nghèo y như nhà bác Tư, tuy vậy thỉnh thoảng bà Năm mang qua cho Bác Tư con cá, trái bầu, tình nghĩa lối xóm chan hòa, những lần bà Năm qua chơi lắm lúc thằng Hoàng  lôi con Heo đất ra nhét tiền vô trước mặt bà, bây giờ mất tiền thì bà Năm nằm trong diện nghi vấn trong đầu nhà bác Tư cũng là điều hiển nhiên, tuy có lòng nghi ngờ như vậy, nhưng bác Tư cũng áy náy trong lòng bởi cái nghĩa cái tình của bà Năm dành cho nhà mình trước sau thật gắn bó, người bị nghi vấn tiếp theo là thằng Ngọc, cũng là người bạn thân tình với thằng Hoàng vô cùng, vì mỗi khi chơi (búng thun), hoặc (tạt hình) hai đứa hùn vốn với nhau, nhiều khi thua hết vốn thằng Hoàng dẫn thằng Ngọc vô buồng nơi để cái rương gỗ, nó lôi con heo đất ra để móc tiền đi mua dây thun hoặc hình nên Ngọc nhà ta được có tên trong thành phần nghi ngờ chôm tiền của thằng Hoàng,  người còn lại là thằng Hướng,  người chót trong danh sách nghi ngờ trên, vì có lần chú Hai "Cắc chú" đẩy xe cà rem đứng ngay chỗ cả đám đang chơi "tạt lon", lúc này trời nắng gay gắt nên Hoàng nhà ta thèm cây cà rem đậu xanh của chú Hai bán, nó rủ rê thằng Hướng vô nhà lấy tiền, cũng con heo đất đó, vậy mà hôm ấy thằng Hoàng móc hoài mà chẳng có xu nào rớt ra, thằng Hướng bày cách cho thằng Hoàng  lấy cây nhíp nhổ râu của bácTư trai ra để thò vô cái khe trên lưng con heo kẹp tiền móc ra dễ ẹt, vì lẽ này cho nên thằng Hướng dính vô vụ mất trộm tiền của thằng Hoàng là điều khó mà chối cãi.   Nghi ngờ như vậy nhưng muốn mở lời hỏi han thì bác Tư rất e ngại, bác nghĩ hỏi thẳng quá thì mất lòng, còn chọn cách nói xa nói gần nhiều khi bà Năm và hai thằng nhóc kia không hiểu, sau khi phân vân so tính thiệt hơn bác Tư chọn cách nói gần nói xa để "Điều tra" vụ này.   
      Hăm ba tháng chạp chợ búa làng quê bắt đầu chộn rộn, phía ngoài đường lộ những chiếc xe bò, xe ngựa chở đồ hàng bông, rau cải, hoa quả, từ trong vườn ra chợ, con đường đất đỏ trước nhà thằng Hoàng suốt đêm nghe tiếng xe bò xe ngựa qua lại liên hồi, tiếng "cút kít " cú bánh xe hòa lẫn tiếng leng keng của mấy cái chuông treo trên cổ con bò con ngựa lúc nào cũng khua vang, đã vậy thỉnh thoảng tiếng của những ông điều khiển xe bò xe ngựa, vang lên cùng tiếng roi đánh chan chát trên lưng các con vật này.   Các bà các cô người "Di cư" gánh những gánh rau muống cao nghệu họ đi thoan thoát trong đêm sương, tiếng chiếc đòn gánh và hai chiếc gióng ở hai đầu kêu kẽo kẹt theo nhịp bước chân của họ, những âm thanh ấy tạo nên sự hối hả của mọi người làm cho các gia đình sống ven con đường phải thức sớm để lo những việc cho ngày tết.   Tình cờ gặp nhau ở đầu xóm, bác Tư thấy bà Năm cầm cây đèn hột vịt từ trong hẻm trờ tới, bác Tư bắt chuyện:
  - Chị Năm cũng đi chợ sớm há, tui cũng đi chợ nè, chị gửi cây đèn cho nhà ông Hai đi, từ đây ra chợ cũng gần sáng rồi, chị cầm theo mắc công lắm, có gì tui nắm tay dẫn chị đi cho.  
     Trên đường ra chợ, bác Tư hỏi dò về con heo đất, bác Tư kể lể thằng Hoàng bày đặt nuôi heo đất mần chi, tiền không có xài mà bày đặt dành dụm chi cho mắc công, nghe bác Tư đả phá việc nuôi heo đất, bà Năm lên tiếng:
    - í cháu nó mần dậy tốt chứ chị Tư, kệ nó thằng Hoàng bỏ nhiêu hay nhiêu chị ơi, thằng Thành nhà tui nó không được cái tánh như cháu Hoàng đâu, có nhiêu tiền nó thồn hết (dô) họng hà chị.  Rồi vô tình bà Năm hỏi tiếp: 
 -  Cháu nó nuôi heo được lâu mau rồi chị, chắc bộn bạc há.  
 Sẳn dịp bác Tư "xổ" luôn :  
  - Nó mới đập heo hôm qua đó chị Năm, chèn ơi nó thấy heo toàn bạc cắc không hà, thằng Hoàng nó nhét tiền giấy (dô) cũng bộn, (dậy) mà đập ra không còn một tờ.  
    Bà Năm nghe vậy bà nói ngay:
 -  Chèn mẹc ơi, (dậy) là có cái quân nào nhám nhúa tay chưn "ẳm" tiền của thằng Hoàng rồi, cái thứ gì bất nhơn quá dậy cà.  
    Nghe bà Năm rủa xả tên "Đạo chích" nào đó quá mạng, bà Tư nghĩ chẳng phải bà Năm là thủ phạm, vì nếu bà Năm có lòng tham thì chẳng lẽ bà tự chửi mình hay sao, nghĩ vậy bác Tư thấy nhẹ lòng vì bà Năm được loại ra khỏi vòng nghi vấn này...  
     Đêm giao thừa, bà Tư cũng gói được vài đòn bánh tét, bà bắt nồi bánh trên mấy cục gạch làm ông Táo trước sân nhà, bà Tư nổi lửa lên, ánh lửa cháy bập bùng bên cái không khí se se lạnh của đêm trừ tịch, thằng Ngọc, thằng Hướng , thằng Hoàng xúm xít quanh nồi bánh, bà Tư vừa canh lửa vừa hỏi dò hai thằng nhóc kia vụ con heo đất của thằng Hoàng, hai thằng nhóc thề bán mạng tụi nó chẳng bao giờ lấy cắp tiền của Hoàng vì biết nhà Hoàng nghèo đồng cảnh ngộ với mình thì lòng dạ nào ăn cắp tiền của bạn..   Vậy là số tiền giấy của thằng Hoàng "ra đi" không hẹn ngày trở lại, tên trộm vô hình nào đó cao tay ấn không để lại dấu vết gì khiến cho việc "Điều tra" của bác Tư đi vào bế tắc .  Bác Tư quan niệm với câu lầm thầm :  "Thôi thì của đi thay người, ai mà lấy tiền của thằng Hoàng mình chắc họ cũng khỗ cực như mình nên mới mượn tạm"  Bác Tư cho rằng việc gì cũng có nhân quả, gieo nhân nào thì gặt quả nấy vì bác Tư thường nghe sư bà ở tịnh thất gần nhà rao giảng như vậy, bác Tư thanh thản trong lòng kêu thằng Hoàng đem trái dưa hấu nhỏ cắt ra cho lũ nhóc ăn lấy hên để bước qua năm mới ....    
 ***   
Ông Hướng treo dây pháo dài gần hai trước trên (ban công) nhà mình, tiếng pháo nhà ông nổ vang cả góc phố, sắp đến giao thừa chuẩn bị dọn bàn thiên ngoài trời để cúng, chợt ông thấy dáng của ai y như ông Hoàng, chừng nhìn kỹ đúng là ông Hoàng bạn chí cốt ngày xưa đã xa cách mấy mươi năm giờ mới gặp.  Mời bạn vô nhà , bên tách trà thơm, bên bánh mức ngon ngọt ông Hướng thiết đãi bạn mình chu đáo, hỏi han hoàn cảnh thì ông Hoàng cho biết từ khi đi vùng Kinh tế mới, đến nơi sơn lâm chướng khí đời sống kham khổ nên một thời gian sau hai bác Tư lần lượt qua đời, còn lại một mình Hoàng cố gắng làm lụng sống đắp đổi qua ngày, gần tết sau mấy mươi năm xa cách, tiềm thức thúc đẩy Hoàng quay về xóm cũ, vật đổi sao dời làng xóm người cũ không còn được lại bao nhiêu người, phần đông người từ phía miền ngoài di dân về nhiều nên lạ hoắc lạ huơ.  Gửi cho bạn một ít tiền để gọi là quà tết, Hoàng quay lại vùng Kinh tế mới sinh sống, ông Hướng từ lúc biết hoàn cảnh thằng bạn thời con nít của mình đang lâm vào hoàn cảnh khốn khó nên ....    
 ***
   Ông Hướng xuống xe đò, theo chỉ dẩn của ông Hoàng nên sau một hồi hỏi thăm người dân họ cũng chỉ ra được nhà ông Hoàng, được chú em nhỏ cho quá giang nên ông Hướng không phải lội bộ vô đến nhà ông Hoàng, sau khi lên mấy đoạn dốc, xuống một vài khe suối ông Hướng đến "căn nhà"  của ông Hoàng, nghe tiếng kêu ông Hoàng tất tả chạy ra sân đón thằng bạn ngày xưa đến sơn lâm cùng cốc để thăm mình, đôi bạn mừng mừng tủi tủi khi nhắc lại chuyện ngày xưa trong xóm nghèo, mấy mươi năm qua tình cảm họ vẫn như ngày nào, sau một hồi cơm nước đạm bạc, hai bạn già ra ngoài sân ngồi uống trà nơi cái bàn làm bằng tre nứa, ông Hướng bổng nhắc lại con heo đất của ông Hoàng, sau khi dò hỏi kỹ lưỡng xem ông Hoàng và bác Tư có tìm ra chút manh mối nào không, ông Hướng nghe ông Hoàng nói : 
 - Trời đất, chuyện lâu lắc dậy mà ông còn nhớ nữa hả, mất tiền tui ấm ức lắm chứ, nhưng má tui nói thôi kệ con ơi của đi thay người, mình còn đôi bàn tay mình sẽ làm lụng có tiền lại thôi, nghe má khuyên dậy tui cũng nguôi ngoai và quên phức lâu lắm rồi . Ông Hướng thở hắt ra một cái thật nhẹ ông trả lời: 
  - Chèn ơi,  cũng là kỷ niệm đáng nhớ đó ông ơi, bác Tư hỏi tui (dới) thằng ngọc (dụ) này,  tui áy náy ghê luôn, lúc đó tui cố làm ra vẻ (dô can) mà bác Tư cũng tin nữa.
   Hớp ngụm nước trà, rồi đưa mắt nhìn lên bầu trời thấy vài vì sao lấp lánh trên không, hít thật mạnh vào buồng phổi làn không khí trong lành của bầu trời đêm miền sơn cước, ông Hướng khẽ nói: 
 -  Hoàng nè, hôm nay mình cố tình lên đây (dới) ông là ( dì)...  
    Nghe ông Hướng nói lấp lửng, nóng ruột vì biết bạn mình sắp nói ra điều gì hệ trọng, ông Hoàng thúc giục :  
- Có gì ông ông cứ nói đi, ai ăn thịt ăn cá ông đâu mà ông sợ:  Nghe đến đây, tự dưng hai hàng nước mắt rươm rướm ông Hướng nói:  
- Tui lấy tiền trong con heo đất của ông ngày xưa chứ ai, tui không dám nhận đã (dậy) còn để thằng Ngọc (dà) bà Năm mang tiếng nữa,  mà tui nói dóc cũng có căn lắm nên bác Tư tin hà rầm. 
     Đến đây thì ông Hoàng cười nhẹ với bạn mình, ông vỗ vai ông Hướng rồi nói:  -Chuyện nhỏ này tui bỏ qua và quên nó lâu rồi, thôi thì ông nói ra nên tui mới nói nha. Má tui biết ông lấy tiền tui chứ đâu, ban đầu tui tính đòi ông dữ lắm, nhưng má nói, thôi con thằng Hướng nó cũng là bạn tốt, nhiều khi nó cần tiền làm gì đó nên nó lấy của con, coi như nó mượn của con đó, nó không trả lại cho con thì sau này cũng có người khác cho con thứ khác.  Nghe xong ông Hướng ngạc nhiên rồi hỏi :
  - Trời, mà sao bác Tư biết hay (dậy):
  Ông Hoàng kể tiếp:
  - Chắc bữa lấy tiền ống heo tui ông cũng không bình tĩnh, ông để lại một vật chứng tố cáo mình mà ông chẳng hay, má tui thấy ông để quên lại nên biết ngay là ông.  
   Ông Hướng hỏi tiếp:
   - Là vật gì :  
    Ông Hoàng chậm rãi kể: 
 - Ba tui cho ông cái Bông vụ (xà beng) giống cái của tui, có điều trước khi cho ông má tui nói phải sơn cái chấm trên đầu Bông vụ cho khác màu, để lúc hai đứa chơi chung biết màu mà phân biệt, cái của ông màu vàng, tui màu xanh, hôm đó ổng để quên kế bên con heo đất của tui, má tui bả có máu thám tử bả đoán ngay chóc luôn.
  Đến đây thì thật sự ông Hướng hoàn toàn kính phục tài năng bà đức độ của bác Tư gái, ông Hướng móc trong túi cái bao thơ dầy cộp đưa cho ông Hoàng, rồi ông nói tha thiết:
  - Hoàng nè, đây là số tiền tui coi như bù đắp lại lỗi lầm của tui khi còn thơ dại, ông nhận cho tui (dui), tui dự tính từ lâu rồi hôm nay mới có dịp thực hiện.   Nói xong ông Hướng ôm chầm ông Hoàng ghì chặt vào mình hệt như hai anh em ruột thịt sau bao ngày xa cách...
    ***  
   Trước mộ phần hai bác Tư, ông Hướng và ông Hoàng thắp nhang cung kính khấn vái, ông thì ăn năn xin tha thứ lỗi lầm, ông thì xin ba má cho mình kết nghĩa anh em suốt đời với người bạn cố tri ngày xưa. Làn khói mong manh bay nhẹ trong gió, tàn nhang uốn cong queo như thể hai bác Tư mãn nguyện và chấp nhận điều cầu xin của hai "trẻ". 
   Bất chợt hai cánh bướm nhỏ vờn bay quanh mộ phần của hai Bác Tư khiến cho hai ông bạn già càng tin tưởng rằng cha mẹ mình đã chứng cho lời cầu nguyện kia bà họ mượn đôi bướm ngầm báo cho họ biết điều tốt đẹp kia .   Lại một cái Tết sắp về trên quê hương, hai ông bạn già lại có dịp gặp nhau để hàn huyên tâm sự, ông Hướng tậu sẳn con heo đất thật bự, nó được sơn và dát vàng, ông bỏ vô đó những tờ giấy bạc mới tinh để tặng cho ông bạn mình, tuy co heo này nhẹ hổng nhưng nó rất "nặng" để ghi dấu lại những ngày xưa thân ái, tuy ai cũng nghèo nhưng tình nghĩa lúc nào cũng sâu nặng vô phương.

                                                                                                                                            Hai Hùng SG  
                                                                                                                                      (Đậu Hoàn Đô st)   

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

SAO ĐÊM LẤP LÁNH



Hồ Sỹ Hậu


            Mẹ kể: Một buổi tối, bom địch đánh tắc đường, mấy chiếc xe chở hàng được dấu dưới tán rừng, các anh bộ đội lái xe ghé vào đơn vị xin nấu cơm nhờ, chị em cùng Trung đội Thanh niên xung phong của mẹ ngủ dồn lại, nhường hầm cho các anh. Mẹ quen bố từ lần ấy. Xe của bố có hai người, bố và chú phụ lái người cùng làng tên là Hoàng. Trọng điểm giao thông mà đơn vị mẹ đảm nhiệm nằm trên cung đường của bố nên hai người thường ghé thăm. Tình yêu giữa mẹ và bố không biết nẩy nở từ lúc nào. Nhưng cứ một tuần không thấy bố ghé qua, hay những khi biết bom đánh ác liệt các trọng điểm trên cung đường, lòng mẹ lại như lửa đốt. Chú Hoàng phụ lái nhận ra tình cảm của mẹ dành cho bố thường không dấu được buồn bực. Mẹ nhận ra chú ấy cũng có cảm tình với mẹ. Một hôm, bố nói với mẹ rằng bố đang tìm một người lái phụ khác, vì Hoàng không chịu nổi ác liệt nên đã đào ngũ. Rồi bố có lệnh được điều vào Trường Sơn. Hôm chia tay, mẹ khóc nhiều lắm. Mẹ thương bố rồi đây sẽ phải đương đầu với bom đạn và vô vàn bất trắc trên tuyến lửa Trường Sơn. Đêm ấy bố mẹ đã sống với nhau như vợ chồng. Trước khi chia tay, bố viết vội lá thư gửi ông bà nội. Thư nói: “Thưa bố mẹ, đây là người con gái con yêu, cô ấy mang giọt máu của con. Nếu vì sự khốc liệt của chiến tranh mà con không thể về làm lễ cưới, thì xin cha mẹ nhận cháu nội”. Ngày bố mẹ chia tay cũng là ngày ly biệt. Mấy tháng sau, mẹ nhận tin bố đã hy sinh trên tuyến lửa Trường Sơn. Mẹ đau đớn vô cùng. Người duy nhất trong đơn vị biết mẹ đã mang thai là cô Trang,Trung đội trưởng.

         Cuộc sống, công việc của Trung đội nữ TNXP của mẹ trên những cung đường vô cùng gian nan, vất vả, chồng chất hiểm nguy. Một buổi chiều, bom Mỹ đánh trúng mấy toa tàu chở thuốc trừ sâu, Trung đội của mẹ được điều đi khắc phục hậu quả. Cô Trang Trung đội trưởng nói với mẹ: “ Hôm nay em ở nhà nấu cơm cho chị em. Thuốc trừ sâu độc lắm, em đang mang thai, ra đấy không tốt đâu”. Rồi trận bom kế tiếp đánh vào nhà ga, mọi người trong Trung đội đều kịp trú trong hang đá nên may không ai bị thương. Còn 1 quả bom rơi vào nơi trú quân thì đã thổi bay ngôi nhà bếp mẹ đang nấu cơm.  Một mảnh bom đã găm vào đầu khiến mẹ bất tỉnh, phải đưa đi cấp cứu và nằm điều trị tại Quân y viện.  Chữa khỏi vết thương, nhưng mẹ cũng không thể giấu được cái thai trong bụng. Ra viện, mẹ được xuất ngũ. Ngày chia tay, thấy mẹ gầy yếu quá, chị em trong Trung đôi dồn đường sữa cho mẹ. Cô Trang còn dúi vào ba lô mẹ mấy tấm vải xô màn còn mới. Cô nói: “ Thứ này sẽ có ích cho em khi sinh nở đấy”. Con biết không, ngày ấy điều kiện chiến tranh thiếu thốn vô cùng. Những chiếc quần lót của chị em còn phải vá chằng vá đụp, những mảnh vải xô này là quý lắm vì là thứ duy nhất giúp họ vượt qua được những ngày “tới tháng” vô cùng vất vả nơi lam sơn chướng khí. Mẹ nghẹn ngào ôm lấy cô Trang và chị em trong Trung đội. Họ là ân nhân của mẹ con mình.


            Từ đơn vị, mẹ ghé về quê nội. Ông bà nội đọc thư của bố, khóc nhiều lắm. Ông bà giữ mẹ lại chăm sóc và để đứa cháu đích tôn được sinh ra mẹ tròn con vuông. Hôm làm giấy khai sinh, ông bà mang lá thư của bố, và dắt mẹ lên xã đề nghị làm thủ tục để con được công nhận là con Liệt sỹ. Chú Hoàng phụ lái ngày xưa hóa ra lúc này lại đang làm trong Ủy ban xã. Không hiểu sao một kẻ đào ngũ như ông ta, trở về địa phương lại ngồi được vào ghế đó. Đọc xong lá thư của bố, ông ta lạnh lùng: “Một lá thư như thế này không thể là pháp lý được. May cho cô là không bị kỷ luật, bây giờ lại còn đòi hỏi nữa sao?” . Mẹ không ngờ, với người thân của đồng đội đã hy sinh, lại là người cùng làng mà sao ông ta lại có thể hẹp hòi đến vậy. Biết rõ bản chất con người ông ta, ông nội con cay đắng nói: “Không phải nó hẹp hòi vì ghen tuông do trước đây có tình cảm với con đâu, vì như thế thì nó vẫn còn tính người. Cả xã này chẳng ai lạ gì nó. Không có tiền thì không có việc gì thành được, kể cả những việc đền ơn đáp nghĩa người có công”.

         Mẹ cả đời ở vậy nuôi tôi khôn lớn. Thương mẹ và hiểu nỗi thiệt thòi của bao người đã đi qua chiến tranh. Tôi cố gắng học lên đến Đại học. Sau khi tốt nghiệp,  tôi xin về công tác tại Sở Lao động Thương binh xã hội tỉnh với mong muốn được chăm lo giải quyết chính sách cho người có công. Thực tế công việc không hề đơn giản để có thể làm cho thấu đáo. Chiến tranh đã qua, hồ sơ Thương binh Liệt sỹ cứ chồng chất, nhất là trong đống hồ sơ ấy, thật giả lẫn lộn. Những người làm chính sách như chúng tôi, dù nhiệt tâm, trong sáng bao nhiêu cũng khó tránh được việc bỏ lọt những hồ sơ đúng, và mắc lừa những hồ sơ giả mạo.

         Hơn ba mươi năm trôi qua, tóc mẹ tôi giờ đã bạc nhiều. Mỗi khi trái gió trở trời, vết thương lại tái phát nhức nhối. Vợ chổng tôi thay nhau xoa bóp, thuốc thang cho mẹ. Sức khỏe của mẹ tôi cứ yếu dần. Vào một ngày đông giá rét, mẹ tôi ngậm ngùi nói:

         - Con ạ. Mẹ không được công nhận vợ Liệt sỹ, nhưng mẹ là Thương binh, vẫn được hưởng phụ cấp. Mẹ lại có con, giọt máu cha con để lại. Vậy là mẹ mãn nguyện rồi. Nhưng còn cô Trang và những đồng đội của mẹ, họ thiệt thòi lắm.  Mấy chục năm qua, phải chịu đựng chất độc trong người hành hạ, sức khỏe suy kiệt dần, họ vẫn không hề được nhận chính sách chế độ gì từ Nhà nước. Con làm trong ngành, hãy cố gắng trả lại sự công bằng cho các cô ấy, để mẹ nhắm mắt được yên lòng.


         Tôi coi lời dặn ấy là di nguyện của mẹ. Theo ghi chép trong sổ tay của mẹ, tôi vạch kế họach tìm đến nhà cô Trang và những người trong Trung đội. Quê cô ở một làng ven Quốc lộ. Nửa ngày xe đò là đến nơi. Căn nhà cô lớn lên từ thời thơ ấu, giờ đã chia cho gia đình hai người anh. Còn cô, sức khỏe suy kiệt, không chồng, không con, sống trong sự cưu mang của họ hàng. Khi cả hai người anh qua đời, không muốn phiền các cháu, cô đã chuyển về huyện Lâm Sơn sống với các chị em cùngTrung đội.

         Con đường vào “Xóm Không Chồng” nằm sâu trong một thung lũng. Từ huyện lộ, chiếc xe ôm chở tôi nhảy chồm như ngựa, gần một giờ đồng hồ mới tới nơi. Trời đã chạng vạng tối. Cô Trang và các bạn tiếp tôi như đứa con xa trở về. Họ xuýt xoa, nắm tay, vuốt tóc tôi. Đã bốn mươi rồi, mà các cô cứ coi tôi như một đứa trẻ. Lúc đó tôi mới hiểu ra, tôi là đứa con duy nhất trong Trung đội mười ba người của mẹ.  

         Cô Trang kể lại về trận bom Mỹ đánh vỡ mấy toa chở thuốc trừ sâu năm ấy, cả Trung đội được điều đi khắc phục hậu quả. Giữa thời chiến tranh, sâu hại lúa nhiều vô kể, nên thuốc trừ sâu quý lắm. Trên lệnh phải cố gắng thu gom tối đa. Công việc độc hại mà cả Trung đội không có bất kỳ một thứ bảo hộ gì ngoài khẩu trang và khăn mùi soa bịt miệng. Phải bốc thuốc trừ sâu bằng những chiếc găng tay bốc đá đã rách thủng, thuốc trừ sâu theo chỗ rách ngấm vào da thịt. Rồi trời mưa, mùi thuốc sâu xông lên nồng nặc. Đến ngày thứ ba, đã có vài người nôn mửa, lảo đảo vì ngộ độc. Mặc dù vậy, với tinh thần hăng hái của Thanh niên xung phong thời đó, chị em trong Trung đội vẫn làm quần quật cả tuần lễ để chuyển thuốc sâu vào kho. Sau lần ấy, mười hai chị em thay nhau ốm. Họ sốt, ho, nôn mửa, rụng tóc, kinh nguyệt thất thường. Rồi lần lượt, họ phải phục viên vì không còn đủ sức khỏe công tác. Nhiều năm trôi qua, họ đều lâm vào hoàn cảnh giống nhau: Sức khỏe sa sút, không chồng, không con. Bác Khoan, nguyên Đại đội trưởng, sau khi phục viên về làm Chủ tịch xã, biết hoàn cảnh của chị em, đã bảo họ: “Đất chỗ tao rộng, đứa nào sống ở quê khó thì đến đây tao giúp!”. Vậy là họ lần lượt kéo nhau đến. Cùng hoàn cảnh, họ đùm bọc nhau như chị em một nhà. Ủy Ban xã, các Hội: Phụ nữ, Cựu chiến binh gom góp dựng cho họ mấy căn nhà tình nghĩa. Nhà tranh vách đất thôi, nhưng đủ vững chãi để che mưa che nắng. Họ cùng nhau cuốc đất trồng rau, chăn nuôi gà lợn. Ngày tháng trôi qua, nơi họ trú ngụ được gọi bằng cái tên: “Xóm không chồng”. Từ lâu rồi, cái xóm không chồng nhỏ bé này mỗi năm thường có một đêm lửa trại, đó là vào tối ngày 27 tháng 7, kỷ niệm ngày Thương binh Liệt sỹ. Hôm nay tôi đến thăm các cô cũng đúng vào ngày đó. Từ chiều, thanh niên trong xã đã gom củi dựng thành khung lớn giữa sân nhà cô Trang. Đêm xuống, ngọn lửa được nhen lên. Bác Khoan, lúc này đã là một cựu Thanh niên Xung phong tuổi bát tuần, phát biểu rất cảm động về ý nghĩa ngày Thương binh Liệt sỹ, và nhắc nhở lớp trẻ trong xã đừng quên công ơn của các anh hùng Liệt sỹ, Thương binh, trong đó có những người như các cô Thanh niên xung phong đây, những con người đã âm thầm dâng hiển tuổi trẻ cho đất nước. Sau đó họ hát. Không chỉ các bạn trẻ, mà cả các cô trong Trung đội của mẹ cũng hát. Nhìn các cô hát, tôi bỗng cảm thấy nhói đau. Những giọng hát giờ đã khàn đục, những gương mặt giờ đã sạm đen và mái tóc đã bạc. Các cô vẫn hát vô tư về một thời Thanh niên sôi nổi, hát như phía trước vẫn là những gì thật cao đẹp mà các cô đang theo nó đến hết cuộc đời.


         Khi mọi người ra về, bác Khoan và các cô ngồi uống trà cùng tôi đến tận khuya. Biết tôi là đứa con duy nhất trong Trung đội đang cố tìm cách giải quyết chính sách chế độ cho các cô, bác Khoan nắm lấy tay tôi nghẹn ngào:

         - Cảm ơn cháu! Bốn mươi năm nay, bác cũng đã đi gõ tất cả các cửa rồi, nhưng chẳng giải quyết được gì. Chính cái ngày định mệnh ấy, bác đã động viên các cô cố gắng cứu lấy từng cân thuốc trừ sâu để giúp bà con sản xuất. Cả cấp trên, cả bác, và cả các cô đây đều đâu có hiểu được sự độc hại khủng khiếp của loại thuốc trừ sâu ấy. Bác cảm thấy mình nợ các cô ấy nhiều lắm.

         Đúng lúc đó, một tràng ho nặng nề của cô Nhuần từ phòng trong vọng ra. Bác Khoan  nhấp chén trà như để vợi bớt những gì đắng nghẹn, bác trầm giọng:

         - Cháu biết không, hơn ba mươi năm trước, các cô ấy về đây đủ mười hai người. Bốn người đã ra đi rồi, bây giờ còn tám. Cô Nhuần giờ cũng yếu lắm. Việc giải quyết chính sách, không biết chúng ta có kịp làm được gì giúp được họ không. Thời xưa, quá nhiều ấu trĩ, mà hệ lụy đến tận bây giờ. Thời gian càng trôi đi, lớp sau lại càng thiếu sự cảm thông, đó là chưa kể đến những nhiễu nhương của xã hội thời nay! 

        Đêm ấy, tôi xin phép các cô mắc võng ngủ ngoài hiên. Tôi trân trân nhìn lên bầu trời đầy sao mà lòng dạ rối bời. Câu chuyện xẩy ra cách đây ngót hai mươi năm lại hiện về mồn một. Hôm ấy, tôi nhận bộ hồ sơ của một nữ Thanh niên xung phong tên Nguyễn Thị Nhuần. Trường hợp của cô giống hệt đồng đội của mẹ. Hồ sơ mô tả đầy đủ việc bom Mỹ đánh vỡ tung mấy toa tàu chở thuốc trừ sâu. Chị em mấy ngày liền thu gom, rồi họ ngộ độc, không còn sức để công tác, phải phục viên. Tôi tổng hợp hồ sơ trình lên cho Trưởng phòng, lúc đó không ai khác, lại chính là ông Hoàng. Ông ta đọc lướt qua hồ sơ, rồi ngẩng lên nhìn tôi, giận dữ:

         - Tôi hỏi cậu, cậu lập hồ sơ đề nghị giải quyết chính sách, thế cô Thanh niên xung phong này có bị thương vì bom Mỹ không?
         - Dạ…Không, nhưng là gián tiếp ạ. Chất độc đã làm họ mất sức lao động suốt từ hồi đó.
         - Gián tiếp? Vậy họ có bị vết thương nào gây gãy xương hay chảy máu không?
         - Dạ không.
         - Họ có phải nhiễm độc vì chất độc da cam từ máy bay Mỹ rải xuống không?
         - Dạ không.
         - Vậy cậu định xếp họ vào Thương binh loại gì đây? Chính sách Nhà nước không phải cứ thích là tùy tiện ban phát được. Hiểu không!

         Tôi không biết phải nói gì, đành lựa lời giải thích cho chị cựu Thanh niên xung phong. Chị bưng mặt khóc:

         - Cậu ơi. Như vậy, chúng tôi không phải là đã cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước hay sao? Chẳng phải riêng tôi đâu. Cả Trung đội TNXP chúng tôi bây giờ bị Nhà nước quay lưng lại, thì biết dựa vào ai đây?  

         Nhìn bóng chị lê bước ra khỏi cơ quan, cánh tay buông thõng nắm hờ tập hồ sơ, Tôi thấy xót xa. Nhưng tâm thế của một Thanh niên mới ra trường chưa đủ cho tôi hiểu thấu nỗi đau của chị. Về nhà, tôi kể cho mẹ nghe. Mẹ òa khóc:

         - Cô Nhuần đơn vị mẹ đấy con ơi! Vậy là tất cả bọn họ đều chưa được hưởng chính sách gì. Tội nghiệp quá!

         Rồi mẹ bỗng nhìn tôi chăm chú đến đáng sợ - Nghe nói Ông Hoàng là Thương binh phải không?

         - Dạ đúng. Bác ấy đang hưởng phụ cấp thương tật loại ba trên bốn.
         - Đồ lừa đảo! -Mẹ gằn giọng - Ông ta đào ngũ ngay sau mấy chuyến chở hàng đầu tiên. Trên người không hề bị xây xát gì, sao lại là Thương binh được?!

         Từng nghe cơ quan xì xào ông Hoàng có cả một đường dây làm hồ sơ Thương binh giả, nhưng đến lúc này, tôi mới hiểu thêm chân tướng vị Trưởng phòng của mình. Ngày Thương binh Liệt sỹ hằng năm. Ông ta vẫn thường thay mặt anh chị em Thương binh lên phát biểu. Ông cao giọng ca ngợi sự hy sinh của các Liệt sỹ và Thương binh, và nhắc nhở mọi người đừng bao giờ quên công ơn của họ. Tôi bỗng rùng mình về cái sự chân giả của thời nay.

         Bây giờ, mọi việc cũng chẳng có gì khác xưa cả. Những người như ông Hoàng vẫn còn đó. Còn cuộc sống của những người nữ Thanh niên xung phong trong Trung đội của mẹ thì mỗi ngày một tàn lụi dần. Tôi không sao kìm được hai hàng nước mắt cứ tuôn trào. Mẹ ơi. Không biết con có thực hiện nổi di nguyện của mẹ không. Các cô trong Trung đội đã về đây đùm bọc nhau sống trong cái “Xóm không chồng” này. Rồi họ lần lượt ra đi. Họ ra đi trong vòng tay đồng đội, nên họ vẫn luôn nghĩ rằng họ đã ra đi trong niềm kiêu hãnh. Niềm kiêu hãnh của họ là cái gì đó cao lắm, xa lắm, mà những người thời nay không dễ gì hiểu được. Mẹ ơi. Tối nay các cô vẫn hát:

         “Đi giữa trời khuya sao đêm lấp lánh
         Tiếng hát ai vang vọng cây rừng
         Phải chăng em cô gái mở đường, không thấy mặt người chỉ nghe tiếng hát…”

         Mẹ và các cô trong Trung đội đang lần lượt hóa thân vào những ngôi sao lấp lánh kia. Những ngôi sao không cấp. Người ta thấy họ, nhưng chẳng ai nhận diện và gọi được tên họ cả. Mẹ ơi! Nếu trên bầu trời đêm thiếu những ngôi sao không cấp khi mờ khi tỏ ấy thì đâu còn là bầu trời đêm nữa, phải không mẹ! Con tự hào về mẹ và những người đồng đội của mẹ.


Tháng 7/2016
Hồ Sỹ Hậu


Thứ Hai, 26 tháng 11, 2012

Truyện cực ngắn, đọc... sao cay mắt quá !


Ngày cưới của cha
Anh hai làm ở thành phố, tổ chức đám cưới luôn trên ấy. Ba vượt hơn 200 cây số đường quành quả các thứ lo đám cưới cho anh.
Anh kế, rồi đến đám cưới tôi, ba lo lắng đến từng chi tiết, cả đến cách lạy, cách đi đứng như thế nào cho phải đạo...
Mẹ mất sớm, ba sống cô đơn hàng chục năm. Khi các con đã yên bề cả, ba đi thêm bước nữa. Ngày cưới của ba, cả ba anh em tôi đều viện cớ vắng mặt...

Lòng tin
Xe ngừng…
- Mận ngọt đây! ...
- Bao nhiêu tiền bịch mận đó?
- Dạ 2000.
- Hổng có tiền lẻ!
- Để con đổi cho!
Cái bóng nhỏ lao đi. Năm phút, mười phút…
- Trời! Đồ ranh! Nó cầm 5000 của tui đi luôn rồi!
- Ai mà tin cái lũ đó chứ!
- Bà tin người quá! ...
Xe sắp lăn bánh… Cái bóng nhỏ hớt hải:
- Dì ơi! Con gửi ba ngàn. Đợi hoài người ta mới đổi cho.

Khoe
Ngày xưa, khi có ai hỏi con: "Bố làm nghề gì ?", bố thấy con không vui và không bao giờ chịu trả lời là bố làm nghề thợ hồ.
Bố cố gắng làm việc nhiều hơn để nuôi con ăn học & mong sau này con có được 1 nghề mà mọi người nể trọng trong xã hội.
Con thành đạt rồi lấy chồng. Mỗi lần khách đến chơi, câu đầu tiên bố thường nghe con khoe là: "Nhà em làm luật sư nên lúc nào cũng bận".
Bố buồn, chỉ ao ước được 1 lần nghe con khoe về nghề của bố...

Nhạt
Người đàn bà vội vã ra đi vào một chiều mưa tầm tã. Ngày ngày, chỉ còn lại người đàn ông lầm lũi bên xe mì gõ đầu hẻm.
Chẳng hiểu vì lý do gì, khách đến ăn ngày một thưa dần rồi vắng hẳn. ...
Ngày nọ, có người đàn bà sang trọng tìm về con hẻm xưa. Không ai còn nhận ra bà. Người đàn ông và xe mì gõ không còn ở đó nữa. Người ta bảo, kể từ cái dạo vợ bỏ đi, mì ông nấu không còn ngon như trước và quá nhạt. Nhạt nên người ta không ăn của ông nữa...

Đưa đón
Nội từ quê vào thăm, mang quà quê vào cho cháu, nào là bánh đa gạo nếp, có cả chục trái dừa khô. Thấy nội lỉnh kỉnh vất vả, con trách bố: "Sao không đón nội?"
Bố bảo: "Bận quá!"
Ngoại nước ngoài về thăm quê. Các cậu, dì thuê hẳn một xe ôtô đi đón. Bố cũng đóng cửa hàng nghỉ buôn bán vài hôm, để cùng đi đón ngọai.
Bố bảo: "Ai cũng có mặt, bố không đi ngoại trách...."

Ba
Học lớp 12, tôi không có thời gian về nhà xin tiền ba như 2 năm trước. Vì thế, tôi viết thư cho ba rồi ba đích thân lên đưa cho tôi.
Từ nhà đến chỗ tôi trọ học chừng 15 km. Nhà nghèo không có xe máy, ba phải đi xe đạp. Chiếc xe gầy giống ba…
Cuối năm, làm hồ sơ thi đại học, tôi lại nhắn ba. Lần này, sau khi đưa cho tôi một trăm ngàn, ba hỏi: "Có dư đồng nào không con?”
Tôi đáp: “Còn dư bốn ngàn ba ạ”.
 Ba nói tiếp: "Cho ba bớt hai ngàn, để lát về, xe có hư như lần trước thì có tiền mà sửa”.
Ba về, tôi đứng đó, nước mắt rưng rưng…

( BáTrần giới thiệu- tintuccaonien )

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011

CÓ MỘT ĐÊM NHƯ THẾ






Phạm Thị Minh Thư.









Xin gửi đến các bạn một truyện ngắn của Phạm Thị Minh Thư. Truyện ngắn này từng đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn 1981 Văn nghệ Quân đội . Lúc viết truyện này, chị Thư là sinh viên khoa Toán Lý, Đại học Bách khoa Hà nội.




Câu chuyện xoay quanh một buổi gặp gỡ của hai người nam và nữ xa lạ tại một một miền quê yên bình ngay sau ngày Mỹ ném bom trở lại miền Bắc (16-4-1972). Sau đó người con trai ra trận. Trong cái ồn ào của cuộc sống đời thường sau này, bỗng những kỷ niệm đó lại được trở về với người con gái. Và cô không ngờ những kỷ niệm ngày đó còn sâu đậm hơn nữa đối với người con trai, một người lính . Đó là những hình ảnh trong trẻo, vô tư mà nhờ đó, người lính bước vào trận chiến với một tình yêu và niềm tin vào cuộc sống mãnh liệt. Câu chuyện gắn một thời với lứa chúng ta.



***




Có lẽ dừng ở đây thôi nhỉ? - Ðấy, bây giờ công việc tiến triển nhanh hay chậm là tùy thuộc vào việc cung cấp số liệu của bên các chị.
Gập quyển sổ lại, cẩn thận nhét cây bic vào túi áo ngực - Phụng vừa cười vừa nói với tôi. Tuy mới ra trường, tuổi đời và tuổi nghề so với anh chỉ đáng mặt làm “cháu” nhưng bao giờ Phụng cũng gọi tôi bằng “chị” hết sức trịnh trọng. Cũng có thể với anh đó là thói quen xưng hô trong cuộc sống hàng ngày nhưng về phần mình - mỗi lần sang công tác ở cơ quan này tôi không khỏi cảm thấy tí chút khoai khoái. Chả gì tôi cũng đại diện cho một cơ quan cấp cao hơn.
Công việc kết thúc, chúng tôi quay sang nói chuyện phiếm. Cùng làm việc với tôi hôm nay, ngoài Phụng còn có một người nữa - kỹ sư Vịnh, tuổi trạc ba mươi, Vịnh không hay nói lắm. Tôi chưa khi nào thấy anh tham gia vào những chuyện ngoài lề. Ðặc biệt hôm nay hình như ở con người kín đáo ấy còn có điều gì khác thường, Vịnh cứ lặng lẽ hút thuốc suốt. Ngay cả trong công việc anh cũng không đưa ra nhiều ý kiến tranh luận như những lần khác. Bởi vậy khi nói “chúng tôi” thì có nghĩa là chuyện phiếm chỉ có giữa tôi và Phụng. Sự và Linh - hai kỹ sư khác có mặt trong phòng đang ngồi mài mực tàu. Trước mặt họ, trên bàn la liệt những bản vẽ.
-Thế anh chị, cái ông học sinh vật ấy liệu chiều nay có rẽ ngang, rẽ tắt đâu không nhỉ? Qua nhà gặp được ông ta để hỏi cặn kẽ về cách ươm hạt thì tuyệt.
- Cả phòng này, tiếp sau lời Phụng - Vịnh đột ngột lên tiếng - Mình có cái này, còn gần một tiếng nữa, liếc mắt vào đồng hồ nơi tay Vịnh tiếp - Mình đọc cả phòng nghe nhé.
- Cái gì vậy? Một bài báo mới hả? Ngón tay trỏ đang giơ lên định đỗ xuống đầu tàn điếu thuốc dừng lại - Phụng xăm sắn hỏi. Rồi chẳng đợi câu trả lời của Vịnh anh quay sang tôi. Chắc chị không biết nhỉ? Anh Vịnh của chúng tôi đây “tâm hồn” lắm. Thơ, văn đủ cả. ấy, xin lỗi, cái tật cứ hay nói thành lời những điều chỉ nghĩ, cậu nói bao lần vẫn không sửa được! Nhưng thôi, dẹp qua chuyện vặt. Cậu đọc đi. Ðừng để ý đến đồng hồ. Quá giờ một tý có chết đâu!
- Phải đấy, Vịnh đọc đi - Sự sốt sắng. Bọn mình vừa mài mực vừa nghe cũng được chứ?
Vẫn ngồi ở chỗ mình, tuy nhiên cả Sự và Linh đều đã thay đổi tư thế, họ quay cả về phía chúng tôi.
- Cái này, có thể coi là… Thôi, Vịnh khẽ chặc lưỡi, khỏi dài dòng, cứ đọc nhé.
Rút trong túi đi làm ra một tập giấy, sắp xếp lại những trang phía trên, nhìn đi đâu đó giây lát, Vịnh bắt đầu.
- Có một đêm như thế - Ðây là tên của truyện ngắn, Vịnh dừng lại giải thích và bắt đầu đọc vào chuyện:
Một buổi tối mùa hạ. Trời oi ả lạ thường. Cái oi ả nung nấu suốt cả một tuần lễ vừa qua theo dự báo của Nha khí tượng, ngày mai bão sẽ về. Ngày mai bầu trời sẽ cao và xanh. Rất cao và rất xanh. Những dải mây “si” trắng và mảnh như những rẻo voan nhỏ sẽ bay về. Thế rồi bão sẽ đến. Bất ngờ nhất trong những bất ngờ là bão tố.
Qua ô cửa sổ, Miên nhìn lên bầu trời. Những đêm như thế này mà được nằm ngoài trời thì thật thích.
“Những đêm thế này được nằm ngoài trời, thật thích” Vịnh chữa lại. Sau câu vấp giọng anh có vẻ nhanh hơn:
Dưới bầu trời rộng lớn, uy nghiêm có thể sẽ thao thức, thao thức mãi, lại cũng có thể thiếp đi ngon lành như trẻ nhỏ. Nơi Miên đứng, thẳng xuống là vòi nước công cộng. Mới sau giờ ăn cơm, người rửa bát, người giặt giũ, cái vòi nước ồ ồ chảy suốt. Tiếng thùng, chậu va loảng xoảng chen trong tiếng người chạo nhau về những chuyện xảy ra trong ngày. Lương tăng một trăm linh năm phần trăm, nhưng mấy bà tài vụ tính thế nào lại quên quách không cộng mười hai phần trăm khu vực cho bà Nga, cái bà có giọng nói rin rít như bản lề khô dầu; giá thịt ngoài hạ nhanh đến ngạc nhiên; tình hình Ba Lan xem ra thật đáng lo ngại quá, chẳng hiểu Bộ Chính trị mới sẽ xoay xở ra sao; xuyên tâm liên thực ra là thuốc kháng sinh đấy, vậy mà sao con bé nhà tôi uống đến ngày thứ ba vẫn chưa hạ sốt… Những âm thanh hỗn tạp, và bầu trời đang mở ra trên tít tắp kia - có gì liên quan nhỉ?
“Ngày đêm ta bên nhau, những đêm dài chiến đấu”…
Giọng hát của một ca sĩ nào đó bỗng réo lên. Tội nghiệp cho cô gái. Cô ta không sao xoay xở nổi với chiếc máy hát cũ kỹ. Ðứng ở đây Miên vẫn nhìn được đôi mày đen rậm như con trai của cô gái trên căn gác hai chênh chếch kia. Gia đình cô mới chuyển đến, Miên chưa quen họ.
… “Thời gian trong cách trở đốt cháy lửa tình yêu…”.
Giờ thì có đỡ hơn. Song vẫn chệch choạng như thể người sắp ngã. Giai điệu tha thiết ấy, trái tim tha thiết thế, mà lại vấp phải cái đầu máy hát ngỗ ngược. Ðến hỏng đĩa hát thôi! Mà sao máy hát của cô gái chỉ quay với một đĩa. Chỉ quay với một đĩa như thế mấy đêm rồi?
Giá như lúc này cái đầu máy hát tỏ ra biết điều, để giọng hát được cất lên như nó đã từng cất lên. Giá như lúc này được nhìn sâu vào đôi mắt của người hát và đôi mắt của cô gái còn mang đầy vẻ “cô bé” kia! Những lời ca tuyệt đẹp không bay đi, cũng không tắt bao giờ. Nó đọng lại, đọng mãi trong đáy mắt của người hát và người nghe.
Thời gian - Cách trở - Tình yêu… Vượt lên trên tất cả. Ngọn lửa không gì dập tắt nổi trong lời hát của người con trai ấy, nó có thật trong cuộc đời không nhỉ? Ngày mới lớn cùng với “những vì sao của Ðôđê”, Miên đã yêu vô cùng câu chuyện cổ tích về Chử Ðồng Tử và nàng Tiên Dung. Theo Miên, tình yêu phải là như thế: Giản dị và hồn nhiên. ấy thế mà sau này Miên đã gặp ở mình một tình yêu hoàn toàn ngược lại. Và buồn thay, khi thần tượng sụp đổ trong Miên thì cũng là lúc những năm của tuổi thanh xuân đã trôi qua.
Nước vẫn ồ ồ chảy xuống thùng và chậu. Chuyên đề về thời sự vẫn sôi nổi tiếp tục. Ðầu máy hát trở về điểm xuất phát của nó. Hành khúc ngày và đêm của cô gái lại chấp chới cất lên. Trong âm thanh hỗn tạp ấy, những ý nghĩ của Miên sẽ tiếp tục đan nối. Chẳng có gì vội vàng cả. Ðêm này là của riêng Miên. Bầu trời trên kia… Ngày mai…
Cũng không biết Miên sẽ còn đứng bên ô cửa sổ bao lâu nữa, và tiếp sau những dải mây “si” những gì sẽ bay đến trong ý nghĩ của chị, nếu không có tiếng gõ cửa vang lên.
Trong ánh sáng vàng ệch tỏa xuống từ chiếc bóng đèn cũ kỹ trên mái vòm bụi bậm, gương mặt của người khách lạ có những đường nét thật quen. Mũi ngắn và hếch. Một nốt ruồi đen sậm ngay trên khóe miệng, kéo chiếc miệng hơi lệch về bên phải (cái miệng gây cho người ta cảm giác nó đang giấu một tiếng cười sau vành môi rộng). ánh mắt sâu và trầm tĩnh thoát ra khỏi cả cặp kính cận. Một cậu bé, hay một chàng trai - đã gặp ở đâu rồi khuôn mặt này.
- Thưa cô…
Một sinh viên… Không, Miên đã gặp khuôn mặt này ở một khoảng thời gian nào đó khác cơ. Quỷ bắt cái trí nhớ của chị đi! Sao hôm nay nó lại tồi tàn thế.
- Mời bạn vào. Chắc đợi tôi đã lâu?
- Em mang bài đến nộp. Em nộp bài sau thế này…
- ồ, không sao đâu, tôi cũng chỉ muốn biết tình hình học của lớp thôi. Vừa nói, Miên vừa dẹp nhanh mặt bàn lộn xộn. Cô Ngọc đi an dưỡng, tôi sẽ dạy nốt phần còn lại của giáo trình cho lớp. Sáng nay chắc bạn nghỉ. Tên bạn là Long… Ngồi xuống đi Long.
Nhưng… sao lại thế này? - Sau thoáng liếc nhanh nơi góc vẫn đề tên và lớp, Miên hết sức ngạc nhiên. Dưới phần câu hỏi “hãy nói về hiện tượng nguyệt thực” - bài viết chỉ vẻn vẹn mấy dòng:
“Trên mặt trăng không có hoàng hôn…”.
- Cạch! Cạch! Cạch!
Ai đó gõ vào cửa phòng làm việc ba tiếng. Giọng đọc đang dập dồn của Vịnh bị cắt ngang.
Sự đứng dậy đi về phía cửa.
- Gì thế? - Tiếng Sự hỏi ai đó.
- Tiền! Tiền! Tiền!
Tiếp theo ba tiếng “tiền” mạnh như tiếng gõ cửa, một thanh niên thấp nhỏ, tay cầm nắm tiền bước vào. Nhìn thấy tôi anh ta gật đầu chào, rồi đi lại bàn Sự.
- Cậu nộp tiền may ô nhé!
- Bao nhiêu?
- Hai mươi đồng. Phòng này chỉ còn mình cậu. Bốn đồng lưỡi dao cạo nữa là hai tư. Mà cho tiền lành đấy
- Ông cứ nắm cả đống thế kia tiền nào lành nổi, lưỡi dao cạo… thôi khoản này “nghỉ”.
Vừa nói Sự vừa móc ví, đếm đủ hai mươi đồng đặt trước mặt anh cán bộ đời sống. Không hiểu ở đâu ra mà anh có lắm tờ năm hào thế. Hôm nay chắc là “ngày căng tin” ở đây. Có nhiều tiếng lao xao phía ngoài. Hẳn người ta đang bàn xem nên mua thứ gì: áo may ô hay là lưỡi dao cạo. Lưỡi dao cạo - ở nhà tôi mọi người đang rất cần… Hỏi nhờ mua suất của Sự chăng?
“… Biển phong phú, biển Nhụy hoa, biển Mây…”
Thôi chết, Vịnh bắt đầu đọc tiếp từ lúc nào thế nhỉ? Nhưng… chẳng có ai nhìn tôi cả. Anh cán bộ đời sống vẫn đang trao đổi về tem phiếu gì đó với Sự. Phụng và Linh im lặng nhìn ra ngoài cửa sổ. Còn Vịnh - anh đang cúi xuống những trang bản thảo và đọc, giọng khẽ hơn, thong thả như lúc bắt đầu:
… Rời mắt khỏi bàn kiểm tra của Long, Miên bắt gặp trong đôi mắt trầm tĩnh ánh nhìn nửa mừng rỡ, nửa lo ngại. Cái ánh nhìn như đang dò hỏi, chờ đợi.
“Trên mặt trăng không có hoàng hôn, nhưng lại có biển, Biển theo cách gọi của Galilê…”.
Luật sư, trời ơi, có phải em đấy không?
Sự bừng dậy của trí nhớ gần như vô ý thức. Tờ giấy mỏng mảnh rơi nhẹ xuống mặt bàn.


***



Ngày 16 tháng 4 năm 1972, sau ba năm rưỡi kể từ ngày 31 tháng 10 năm 1968 những - người - Mỹ - không - biết - im - lặng đã đột ngột lên tiếng, bằng cách trút hàng loạt bom và rốc két xuống Hải Phòng, Hà Nội. Các trường học phải đóng cửa mặc dù năm học chưa kết thúc. Rồi những người dân Hà Nội được lệnh phải gấp rút rời khỏi thành phố. Những trận bom hủy diệt đang lơ lửng trên đầu họ - về điều này Chính phủ Mỹ vốn thành thạo lắm, hành động của họ bao giờ cũng đi đôi với lời nói.
Ðêm buông xuống trên dòng người cuồn cuộn đổ ra các ô cửa của thành phố, đi về các ngả. Ô-tô, xe máy, xe đạp, rồi xe bò, thậm chí cả người đi bộ gánh gồng nữa; người, đồ đạc, nồi niêu, chăn màn, giường chiếu… mặt đường bị cuốn phăng đi trong dòng thác ấy… Trong một đêm như thế Miên đã gặp anh sinh viên có cái tên Luật sư chị vừa buột kêu lên, khi ấy Luật sư mới là một cậu bé trạc 10 tuổi, và một thanh niên nữa - Lai. Phải rồi, người thanh niên ấy tên là Lai…
Lúc bấy giờ xe của Miên bị hỏng. Xe hỏng đúng vào lúc cô đã rời khỏi đường quốc lộ, rời khỏi dòng người ít nhất cũng hơn nửa giờ. Trên con đường tắt này - đoạn đường phía sau và phía trước chẳng có ai. Ngoài những bóng cây và những thửa ruộng im lặng đến chết người.
Chập tối khi mẹ từ cơ quan đạp xe về, báo tin đã xin các chú trong cơ quan cho Miên đi nhờ xe về quê ngoại sơ tán, cô đã bực bội vô cùng vì bị coi thường. Tự nhận thấy mình là một phần tử độc lập, hoàn toàn có thể tự lực cánh sinh được Miên tuyên bố với mẹ việc đạp xe một mình về quê hoàn toàn là chuyện vặt.
Với một bọc quần áo và sách vở nhỏ, đạp xe đi giữa dòng người đông đúc, “phần tử độc lập” cho việc đi xe một mình là chuyện vặt thật hoàn toàn hợp lý, cũng như nỗi sợ hãi và chút ân hận giờ đây, khi đứng chôn chân với chiếc xe hỏng giữa cái im lặng đến chết người của những bóng cây và những thửa ruộng.
- Ðồng bào nào mà đứng như vạc thế kia!
Từ thửa ruộng sau lưng Miên, một tiếng người đột ngột cất lên. Mừng rỡ ngoảnh lại, Miên trông thấy một cậu bé tay cầm chiếc đèn bão nho nhỏ đi về phía mình. Thì ra trong lúc đang hoảng, chỉ ngó trước ngó sau, Miên đã không nhận thấy cái nếp nhà nho nhỏ, nằm lẫn giữa những vạt lúa tối um trên mé đường cô đang đứng.
- Xe của chị bị hỏng.
Cùng với câu than, Miên tò mò ngắm cậu bé. Nó đã tới nơi. Hai vai nhọn hoắt đung đưa theo nhịp vung vẩy của chiếc đèn bão, gương mặt nhỏ choắt, một cặp kính cận dầy cộp, rồi vành môi bị kéo lệch đi trong “nụ cười bẩm sinh” - Cậu bé như vừa nhảy ra khỏi một bức tranh biếm họa nào đó.
- Chị đi sơ tán phải không?
- Ừ, chị đi sơ tán. Xe của chị đang đi tự nhiên bị hỏng.
- Tự nhiên? Cậu bé phì cười. Cặp kính nảy lên. Hẳn nó đã thấy hết vẻ sợ sệt trong giọng nói của Con - Vạc - Khổng - Lồ này. May cho chị đấy, chứ đạp thêm một đoạn nữa thì chẳng có ma nào trên quãng đường này đâu. Thôi vào nhà bọn em đi. Cậu bé nói như ra lệnh. Ðể em đi trước soi đường cho.- Nhà em có ai biết chữa xe không?
- Em thì không. Nhưng chị yên trí, có anh Lai. Anh ấy có thể làm được tất cả mọi thứ trên đời. Thần thông biến hóa, có kém Tôn Ngộ Không, thì cũng chỉ tí ti thôi.
Miệng nói, chân đi, chỉ một loáng cậu bé đã dẫn Miên tới nơi. Căn nhà xem ra còn bé nhỏ hơn lúc nhìn từ xa. Nó dường như lọt thỏm trước một đầm nước rộng mênh mông.
“Chúng tôi kêu gọi các bạn hãy coi tình yêu, cuộc sống của người Việt Nam là tình yêu, cuộc sống của bản thân mình, hãy coi cuộc đấu tranh…”.
- Cạch - cửa phòng mở. Một phụ nữ bé nhỏ và nhanh gọn bước vào.
- Linh ơi - Xin lỗi, chào cả nhà. Mực mài xong chưa, cho chị một tí vào đây. Này chỗ len ấy để cho chị nhé.
- Vâng! Vâng! - Linh trả lời rồi trút cho người phụ nữ một ít mực vào cái lọ con tí của chị.
- Ðan cho anh cô cái mũ. Anh ấy cứ hay phàn nàn, so sánh. Lúc nào cũng thở than.
- Chậc!
Anh cán bộ đời sống khẽ buông một tiếng. Câu chuyện tem phiếu giữa anh và Sự ngừng từ lúc nào tôi cũng chẳng hay.
- Gì thế? ở đây đang đọc báo à? Thôi, chị về nhé. Chào cả nhà!
Cũng nhanh gọn như lúc vào, người phụ nữ biến mất sau cánh cửa.
“Chúng tôi kêu gọi các bạn”. - Lặp lại câu vừa đọc, Vịnh tiếp.
… Hãy coi tình yêu cuộc sống của người Việt Nam là tình yêu cuộc sống của bản thân mình, hay coi cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam, vì tiến bộ xã hội là cuộc đấu tranh của chúng mình. Hãy hành động ngay bây giờ để cứu nhân loại khỏi thảm họa…
… Chúng tôi đưa ra lời kêu gọi này từ các hầm tránh máy bay ở Hà Nội.
Ký tên Gớt Hôn(1) Raxít Xtôri Giôdép Noócthơ
Trong căn nhà ai đó đang mở đài. Giọng đọc truyền cảm mạnh mẽ của người phát thanh viên đã ngừng. Phần nhạc xen giữa các đoạn tin cất lên. Miên đứng lại bên chiếc xe. Một thanh niên từ trong nhà bước ra. Hai tay đút túi quần, chân đa đá vào một vật gì đó dưới đất, anh nói một mình: “Tất cả đang sôi lên, vậy mà mình cứ ngồi đây…”.
Hẳn đây là anh Lai của cậu bé, con người có thể làm được tất cả mọi thứ trên đời - Miên nghĩ thầm và quay sang cậu bé, dáng chừng để chờ một sự giới thiệu nào đó.
- Chào bạn.
Nhận ra sự có mặt của Miên và cậu bé, người thanh niên niềm nở lên tiếng.
- Anh làm như cả thế giới đã lên đường rồi không bằng. Nếu anh không ở đây - ai sẽ trông đống tre, lá này, lại còn lo đất làm nhà nữa. Ðặt chiếc đèn bão lên hè, cậu bé lên tiếng chững chạc đến bất ngờ.
- Xin có lời cảm ơn Luật sư. “Ngài” đây cứ bào chữa cho mình suốt đấy. Thân mật như đã quen từ lâu, người thanh niên vui vẻ nói với Miên. Xe của bạn bị hỏng phải không? Luật sư thế mà tài. Bọn này đang ngồi câu, lúc quay lại lấy mồi, cậu ấy phát hiện ra bạn. Mình cho là bạn dừng lại nghỉ, nhưng nó thì bảo: “Đường vắng thế này bọn con gái có đố cũng chẳng dám ngồi nghỉ, kiểu này chỉ có hỏng xe”. Mình định nghe nốt bản tin rồi chạy ra. Mình là Lai. Nào đưa xe mình xem cho. Mà có thể gọi bạn là gì nhỉ?
- Em là Miên - Trao xe cho Lai, Miên trả lời.
- Mình sẽ gọi bạn là Miên.
- Sao lại “sẽ gọi” ạ?
- Anh ấy không biết gọi mọi người bằng tên của họ đâu. Như em chẳng hạn, hẳn hoi là có tên, tên đẹp nữa là khác. Con Rồng Xanh, - ông em vẫn gật gù bảo thế, vậy mà anh cứ réo Nhóc, lại réo Luật sư…
- Có người để than phiền cũng thích thật. Nhưng than vừa thôi, kính tụt khỏi mũi rồi kìa! - Săm của bạn bị hỏng. Lại sang vành nữa. Ðồ chữa xe bọn này không có. Ðồ chữa xe… Sau một thoáng đắn đo Lai tiếp - kể ra chạy vào làng mượn ngay cũng được, có điều đi tiếp nếu lại hỏng dọc đường thì gay. Tối lắm rồi, hay Miên ở lại sáng mai đi sớm? Nhà này chỉ có mình và Luật sư. Trong nhà có đài, có thể nghe đọc truyện đêm khuya, hoặc nếu không thích thì tắt nó đi và nằm ngủ. Ðêm sẽ qua rất nhanh thôi.
Ở lại đêm trong nhà một người không quen - bố, mẹ chắc không bao giờ nghĩ đến chuyện này. Nhưng đi tiếp làm sao được. Anh ấy nói đúng đấy - nhỡ giữa đường xe lại hỏng thì sao? Quả là lúc đi Miên không hề nghĩ đến điều này.
- Nhưng - Miên ngập ngừng, thế còn anh và Luật sư?
- Bọn này nằm ngoài trời. Với lại cũng chẳng ngủ đâu. Nhóc con đang khoái câu cá.
- Chị ở lại đi! Từ đây đến làng sơ tán của chị dọc đường chỉ có một lũ bạch đàn thôi. Ghê chết lên được. ở lại xem bọn em câu cá. Hay lắm!
Ðưa tay đẩy cặp kính dày và nặng đến mức cái mũi hếch ngược lên cũng không giữ nổi, Luật sư giục giã.
- Anh và Luật sư câu được nhiều không ạ? Miên hỏi.
- Một chú! Cậu bé láu táu.
- Thế là chị ấy đồng ý rồi. Của “Ngài” Luật sư đấy. Nom hắn khá đấy chứ? Cả ba đã ở bên bờ đầm. Lai giơ con cá lên ánh trăng soi rõ vệt lấm và những sợi rác vụn bám trên cái lườn bàng bạc của con trôi. Nó đã chết.
Rời mắt khỏi con cá Miên lại gặp vầng trăng. Ðã lên cao, lúc này vầng trăng mảnh hơn, và màu đỏ cũng nhạt hơn. Giờ mới thấy đôi chân mỏi rã rời, mỏi đến không thể làm chủ được. Chả gì, Miên cũng đã đạp trên ba mươi cây số, cô ngồi bệt xuống.
- Sao lại có trăng đỏ hở anh? - Chưa bao giờ em thấy trăng thế kia.
Không phải chỉ riêng Miên dừng mắt trên cái màu đỏ đồng kỳ lạ ấy, có tiếng Luật sư hỏi khe khẽ. Chắc nó sợ nói to cá sẽ nghe thấy.
- Em thì biết gì ngoài sách. Rồi sẽ đến lúc phải đeo lồng hai kính vào nhau nữa kia. Có người bảo đấy là điềm của chết chóc, của mất mùa, rồi chiến tranh Lai bật cười.
- Ðiềm của chiến tranh… Ðừng giễu cợt thế! Nếu như lúc này anh cũng có mặt trong dòng người…
Bàn tay đang bóp bóp chỗ chân nhức dừng lại - Giọng Miên run run.
- Mình xin lỗi, nếu có gì không phải… Nhưng - Miên đã thấy gì nào?
Thấy gì ư?
- Kịch - cửa phòng mở, một người đàn ông đứng tuổi vào.
- Chào cả phòng - Sau khi quay lại khép cửa - ông hướng về phía Phụng. Cho mình xin tí lửa. ồ, xin lỗi…
- Cạch! Cạch! Cạch! Sang lĩnh lương cho người ta còn về chứ!
Cùng với tiếng gõ cửa, ai đó nói to ngoài cửa phòng rồi vội vã đi, tiếng “gộc” khua lộp cộp.
- Lương với chả lậu - Anh cán bộ đời sống lầu nhầu.
- Thôi, dừng ở đây… Tiếng Vịnh nói khẽ.
- Không, không! Ông cứ đọc tiếp! Lương chả lĩnh hôm nay thì mai. Nào! Phụng hất hàm.
Tôi và mọi người cùng gật đầu đồng tình với Phụng. Và Vịnh lại cúi xuống những trang bản thảo.
- Trở lại câu trên nhé - Anh nói, rồi tiếp tục đọc.
Thấy gì ư? Trong đôi đồng tử đang dãn ra của Miên vầng trăng trên kia như đang “to” lên, to mãi. Rồi biết bao ý nghĩ bỗng lấp gấp xô về. Lai và cậu bé Luật sư, không, cả Miên nữa - Chính cô cũng cần phải hiểu lại những xúc cảm miên man ấy.
Em cũng không biết. Vầng trăng như nhòe đi. Tiếng Miên khẽ khàng. Có điều trăng thượng huyền mà lại to và nặng, lại còn màu đỏ nữa… Tưởng như có một mặt trời được kéo ngược từ phía hoàng hôn trở về. Một mặt trời trong đêm - Vầng trăng đỏ ối. Trên dòng người đang im lìm đổ ra khỏi thành phố, trên bầu trời với những đám mây rạn ra từng khoảng lớn, cái mặt trăng lừng lững ấy…
Nói tới đây Miên có cảm giác như đang đi trở lại trên con đường đã qua, lẫn vào dòng xe cộ đông đúc. Trên những chiếc xe ấy Miên đã thấy gia tài bé nhỏ của những người dân trong thành phố của cô, đã thấy những chiếc ghế mây mà trên đó những cái đầu bé bỏng cứ gật lên gật xuống theo nhịp xe xóc, hai bàn tay - cũng bé bỏng như thế buông lơi trên thành ghế - phần lớn các em bé đều đã ngủ ở dọc đường. Có một cái gì đó cứ dâng lên trong mí mắt Miên, cô không sao nói tiếp được.
- Ðừng sợ!
Giọng Lai thấp xuống. Trong giọng nói của anh Miên cảm thấy Lai đã hiểu những gì cô không diễn tả nổi. Trước sự quá tinh tế của những diễn biến tình cảm trong tâm hồn con người - ngôn từ bỗng trở nên khô cứng, nghèo nàn. Vào lúc ấy, may chăng chỉ có âm điệu trong giọng nói mới giúp con người truyền đạt được những gì họ muốn. Bởi vì nếu không, chỉ căn cứ vào hai tiếng “đừng sợ” Miên hẳn đã cho rằng Lai đã hiểu sai cô. Không phải điềm chiến tranh. Cũng chẳng thể là nỗi khiếp sợ. Một sự bất nhẫn chăng? - Nhẹ quá! Vậy thì điều gì đã diễn ra trong tâm hồn khi bắt gặp sự liên tưởng: Có một kẻ nào đó đã dùng cái gam màu ghê sợ ấy xóa đi màu trắng xanh dịu của những ngày tháng thanh bình?
Im lặng trôi qua. Tiếng Lai khe khẽ:
- Trước lời kêu gọi của Gớt Hôn, đài đọc thơ của Nam Hà, Miên có thích bài đó không?
- “Ðường dài đi giữa Trường Sơn. Nghe vọng bài ca đất nước…” - Ðúng không? Thích ghê lên ấy chứ! Cái Dự bạn em, anh có biết không - Miên tiếp - Hơn em hai tuổi. Khai tăng một tuổi, đợt sơ tán này nó ở nhà để xin đi thanh niên xung phong. Bố nó thích lắm, trong mọi việc chẳng bao giờ chú ấy cấm đoán cả.
- Thế bố Miên hay cấm Miên những việc gì?
- Cấm đủ thứ - Miên trả lời. Hai năm lớp tám, lớp chín tối nào Dự cũng đến học nhóm với em. Bàn học của bọn em kê ở một góc, nhưng chỉ liếc qua là bố em biết ngay là đang ngồi học, hay đang xem truyện.
- Giờ học lại ngồi đọc truyện, bị mắng cũng phải. Luật sư xen vào.
- Kìa Nhóc, để chị ấy nói! Lai giơ một ngón tay lên “đe” cậu bé.
“Giờ thì chị hiểu tại sao em bị gọi là Luật sư rồi. Nhưng cấm cũng chẳng được! - Giọng Miên thoáng vẻ đắc thắng. Kéo cái ngăn kéo ra một chút, em để truyện trong đó, và cứ đàng hoàng thế mà đọc. Dự ngồi đối diện với em, lúc nào bố em từ buồng đi ra, nó khẽ ho lên một tiếng, thế là ngăn kéo tự động ập vào. Tất cả những cấm đoán - bố em cứ nghĩ rằng nếu không mê đọc truyện quá, chăm chỉ học hành em sẽ trở thành một người giỏi giang. Rất giỏi giang nữa cơ đấy!
Khẽ bật cười, như thể vì đang hình dung ra mình trong vai trò một người giỏi giang, rồi Miên tiếp:
Có một lần em suýt chết… Anh có biết không - bố em rất hay kiểm soát ngăn kéo và giá sách. Lục truyện mà. Nhưng ai đời dại dột để ở những nơi ấy. Muốn tìm truyện phải xuống dưới bếp cơ! Thùng gạo, chạn thức ăn, thùng đồ vật, rồi trong đống củi, dưới gầm lò cũ… Phái mạnh các anh, nhất là cực mạnh như bố em, ai để ý đến những nơi vớ vẩn?
Thế nhưng “đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma”. Lần suýt chết ấy - buổi tối đọc xong, khuya rồi mệt quá, em quên không sơ tán sách. Sáng ra dậy muộn, quáng quàng xách cặp chạy. Ðến lớp, học hết giờ đầu, vào tiết thứ hai, tiết toán của thầy “Tuấn bút chì” em mới sực nhớ: quyển Phục sinh vẫn để trong ngăn kéo. Sợ quá, chẳng còn nghĩ được đến xin phép nữa, em bật ra khỏi cửa sổ lao một mạch theo đường tắt về nhà. Em ngồi bên cửa sổ, bọn em học ở dãy nhà một tầng, chỗ đó có con đường dẫn ra ruộng rau. Theo đường này qua làng Quỳnh. Chỉ mười lăm phút sau là có thể có mặt ở nhà.
Nếu bố em mà giở ngăn kéo ra… thì ôi thôi. Liép sẽ tan tành! Sáng đó sương mới nhiều làm sao. Sương như từ vùng hồ ao dâng lên - Một bức tường sương kéo suốt dọc đường. Lạnh thế mà mồ hôi cứ toát ra…”.
- Chị thoát không? - Luật sư hỏi dồn. Chẳng hiểu nó đang hồi hộp lo cho số phận Liép, hay cho Miên.
“Thoát!” - Miên trả lời Luật sư. Rồi tiếp - giọng bâng khuâng. Thế mà thầy Tuấn không mắng em. Thầy Tuấn rất hiền. Gày nữa, mùa đông trong chiếc áo bông rộng lùng thùng, trông thầy giống hệt chiếc bút chì trên đậy nắp bút máy Hồng Hà, loại bút đàn ông ấy.
Giờ học cuối cùng trước ngày 16 tháng 4, lẽ ra thầy cũng phải giận em, vậy mà… Thực ra em không nên làm thế. Bao giờ em cũng sai. Nhưng tại sao người ta cứ viết ra những quyển sách hay quá như thế?
- Trong giờ toán hôm đó Miên đã làm gì? - Lai hỏi.
- Giờ kiểm tra một tiết, nhưng em lại ngồi đọc “Ðất Quảng”. Kiểm tra hình. Bài rất dễ, chỉ mười lăm phút là xong. Quyển “Ðất Quảng” vẫn còn một phần nữa, cuối giờ toán bọn nó lại đòi… Miên khẽ thở dài. Lẽ ra hết giờ em phải xin lỗi thầy. Thầy ngồi trong lớp chấm bài để trả ngay. Nhưng em đã không xin lỗi. Bọn con trai chơi cờ tướng vui quá… Nếu biết đấy là buổi học cuối cùng em đã không làm thế. Không bao giờ làm thế!
- Hết hè đến xin lỗi vậy.
- Anh bảo sao? Miên hỏi lại.
- Mình bảo hết hè đến xin lỗi - Lai nói.
- Thầy đi bộ đội rồi. Bài làm hôm ấy thầy vẫn cho em điểm mười. Thầy Tuấn đi bộ đội. Dự đi thanh niên xung phong, còn em đi sơ tán. Thế mà bố, mẹ em còn định gửi em theo xe các chú trong cơ quan… Ngừng một lát Miên lại tiếp. Ban nãy anh bảo mặt trăng đỏ là điềm chiến tranh. Ðiềm chiến tranh dứt khoát không phải rồi, nhưng mất mùa thì có thể lắm chứ. Biết đâu chẳng có liên quan nhất định về thời tiết?
- Chẳng phải đâu - Lai trả lời. Ngoài hiện tượng thủy triều và áp triều ra, mặt trăng không có ảnh hưởng gì đến trái đất cả. Còn màu đỏ hồng kia là do sự khúc xạ của các tia sáng mặt trời vào trong khí quyển, các tia đỏ dập lên mặt trăng… Mà có biết không - trên mặt trăng không có hoàng hôn đâu nhé. Nhưng lại có biển. Biển theo cách gọi của Galilê. Người ta đặt cho biển của mặt trăng những tên như: Biển Mưa, biển Trong Sáng, biển ẩm ướt, biển Yên tĩnh, biển Phong phú, biển Nhụy Hoa, biển Mây…
- Anh học về những cái đó à?
Miên thốt lên, ngạc nhiên và thích thú. Ðôi mày doãng ra trên vầng trán phẳng và cao.
- Ðâu có, giọng Lai thoáng vẻ ngượng ngập.
- Ðưa hộ mình cái cần câu với.
Khi đưa cần câu cho Lai, Miên nhận thấy anh có một đôi mắt rất đen. Có lẽ còn đen hơn cả những dải nước mà sóng đang lôi vào bờ, rồi lại ném ra xa tít tắp kia.
- Sao cần câu ngắn thế anh? - Giọng Miên trong và nhẹ.
- Tháng tư cá thường ăn sát bờ… Nhưng kìa, ngồi không khéo bạn sẽ làm hỏng hết hoa đấy!
- Hoa nào?
Theo bản năng Miên nhổm người lên, như thể đang ngồi trên hoa thật. Thì ra chỗ Miên đang ngồi là một thẻo vườn, mà vạt cỏ tươi tốt bên đầm đã mọc trườn vào. Phải nhìn kỹ mới thấy những gốc cây đã héo.
- Có thấy gì không?
- Những gốc cây?
- Chỉ thế thôi à! - Thở ra rồi hít vào thật mạnh xem nào.
- Hít vào thật mạnh… Trời, sao từ nãy đến giờ em không nhận ra nhỉ?
- Suỵt! Luật sư quay lại, đưa tay lên miệng cảnh cáo tiếng reo của Miên.
Hẳn cậu ta sợ cá nghe thấy.
Hoa loa kèn. Một mùi thơm ngọt mát dâng lên.
Giữa những gốc cây đã héo, giữa những lá cỏ dài tươi tốt, cây hoa còn sót lại ở một góc thẻo vườn chỉ có một bông hoa duy nhất. Thật khó tưởng tượng nổi hương thơm ôm đầy cả khoảng không bao la này, chỉ dâng lên từ đài hoa mảnh dẻ đến dường kia.
- Trước đây là nhà của một ông già rất yêu hoa. Giờ ông chuyển vào làng, nhường đất cho sinh viên làm nhà ở và giảng đường. Có biết vì sao mình nhắc đừng ngồi lên không?
- Miên lắc đầu.
- Hoa đã cắt, nhưng còn củ để lại ươm dưới đất đấy - Lai giải thích.
- Giật đi anh… Thôi, hỏng rồi!
Có tiếng quẫy nhẹ. Tiếp theo là tiếng thở dài thực to của Luật sư. Dưới ánh trăng, cái gọng kính của cậu in hình to kệch, nom đến kỳ dị.
- Hôm nay đen quá. Thôi chả thèm câu nữa.
Luật sư ngáp dài, và nằm xoài luôn xuống. Nó gỡ kính. Lại ngáp. Một lát im lặng. Rồi bỗng cất tiếng, giọng ngái ngủ:
- Cái ông Gớt Hôn ấy buồn cười nhỉ. Ngồi dưới hầm rồi kêu gọi… Mà ban nãy anh nói về mặt trăng là bịa thật đấy?
- Xin cứ tin tôi - ngài Luật sư!
Có gì đó vừa giễu cợt, vừa trìu mến trong giọng Lai.
Cả ba cùng im lặng. Trong đêm tĩnh mịch chỉ còn vang lên tiếng nước vỗ bờ. Mặt đầm cứ rộng ra, rộng mãi và, và bầu trời dường như cũng được nâng lên - cao và nhẹ hơn. Luật sư chừng đã ngủ. Tiếng nó thở nhè nhẹ. Cái kính cận rời khỏi tay, từ mặt kính loáng lên một vệt sáng.
Lai đứng dậy đi vào nhà, rồi trở ra với một cái áo. Anh cuộn áo lại, nâng đầu cậu bé lên và luồn xuống dưới.
- Ở nhà nhóc được chiều lắm. Ngủ không gối hắn ta bị đau đầu đấy. Lai khẽ cười, rồi như nhớ ra điều gì anh bỗng ngập ngừng… Thực ra mình cũng chẳng biết gì đâu, về mặt trăng ấy. Ban nãy là mình đọc thuộc lòng một đoạn trong giáo trình thiên văn của Pôlác đấy. Quyển sách tình cờ rơi vào tay mình. Ông ta viết hay đến nỗi không thể không thuộc được… Cả chuyện cá ăn sát bờ vào tháng 4, và hoa loa kèn khi cắt rồi, thì củ để dưới đất ươm tiếp mình cũng “nghe” sách thôi. Bao giờ về Hà Nội mình sẽ tìm lại quyển sách của Pôlác cho Miên đọc.
- Thật chứ?
- Thật. Có điều đừng đọc trong giờ của thầy “Tuấn bút chì” nữa và cũng đừng nhét Pôlác vào gầm lò cũ hay chạn thức ăn mà ông ta lại kiện mình.
Im lặng.
- Anh Lai này… Trong quyển sách thiên văn của Pôlác có viết về đêm không? - Anh bảo có à? Tiếng Miên như từ sóng nước vọng lên. Bố em bảo em sinh ra vào lúc nửa đêm…
- Một giấc mơ - ừ, tên Miên… Nhưng với mình Miên sẽ là đêm, Lai như nói một mình. Rồi bỗng anh thốt lên: Miên xem kìa!
- Trăng…
- Không, đừng nhìn trăng. Vì sao đổi ngôi - Miên có thấy không? Hẳn một vệt sáng xanh… Nó rụng xuống đâu nhỉ?
Im lặng.
- Khuya lắm rồi - tiếng Lai như bừng tỉnh. Thôi Miên ngủ đi, lấy sức sáng mai còn đạp xe tiếp. Mình nhường cho cái bờ đầm này đấy. Nằm đây ngủ khoái hơn vào nhà. Lai đứng dậy nhìn quanh, rồi trỏ vào vạt cỏ ngay chân Luật sư. Nằm đây này!
- Còn anh?
- Mình thức. Phái mạnh mà…
Im lặng. Sóng xô nước vào bờ. Cùng với cảm giác một cái gì mềm mại lướt dưới lưng, Miên nghe tiếng Lai từ trong nhà cất lên:
- Thế… Ngủ đi, đừng sợ!


***


… Tất nhiên không phải ngay trong lúc này tất cả những điều xảy ra trong đêm ấy đã trở về cùng lúc trong trí nhớ Miên. Mà phải một thời gian, một khoảng thời gian dài sau này Miên mới có thể sắp xếp được những ý nghĩ của mình, sắp xếp được những gì đã xảy ra theo một trình tự rành mạch. Mới có thể mường tượng đến từng chi tiết nhỏ những gì đã có trong đêm đó. Còn bây giờ, trong cuộc gặp gỡ quá đỗi bất ngờ này chỉ kịp cảm thấy trong tâm hồn đang mệt mỏi của mình luồng gió năm xưa tươi mát ùa về. Những ngọn cỏ đâm vào chân buồn buồn. Ðài hoa mảnh dẻ đỡ lấy năm cánh hoa trắng ngà, trên mỗi cánh hoa ấy có muôn vàn tia nước li ti chảy - Những tia nước trong lành đã vọt lên từ mặt đất ẩm ướt trong suốt cả mùa xuân, qua thân cây xôm xốp. Rồi hương thơm của nó… thứ hương lúc thì dậy lên nồng nàn, lúc lại mất đi trong những đợt gió ào ạt đưa về từ phía bên kia bờ đầm. Và sau hết, trên tất cả là âm hưởng của một giọng nói - Cái âm hưởng vừa giễu cợt, vừa trìu mến lạ lùng, nhớ lại chị chưa hề gặp ở một người nào khác.
Phải chăng trọn vẹn những gì Miên mơ ước đều đã có trong đêm đó?
Khoảng im lặng của những xao động trôi qua, Miên hỏi:
- Anh em giờ thế nào nhỉ?
- Anh Lai không phải anh trai em. Em sơ tán về làng đó, gặp rồi quen thôi. Ngày ấy anh Lai là một trong những sinh viên đi tiền trạm để lo xin đất, và lo chuyện làm nhà cho trường. Cho đến hôm đó anh Lai đã có tên trong danh sách đi bộ đội. Mắt anh Lai còn cận nặng hơn em rất nhiều, nhưng anh ấy không đeo kính. Anh Lai bảo tập cho quen đi, chứ có kính thì còn đánh đấm gì. Nhưng thực ra không đeo kính để được đi khám tuyển thì đúng hơn. Ðã có tên trong danh sách đi bộ đội, nhưng vì chưa có người tiếp quản công việc, nên mặc dù rất sốt ruột anh ấy cũng phải ở lại. Còn bây giờ, chị hỏi anh Lai… Long quay đi, và cũng như đêm nào cái gọng kính lại in hình to kệch nom kỳ dị, có khác chăng là in trên tường chứ không phải trên bờ cỏ tươi tốt năm nào - Anh Lai mất đã năm năm. Im lặng một lát Long tiếp - Hà Nội thế mà rộng. Sau những - ngày - bê - năm - hai về em tìm chị suốt cả mà không thấy. Những năm sau cũng không hề thấy. Có cái này em vẫn giữ cho chị. Long đặt trước Miên một phong thư đã cũ và nhàu, nét chữ ngoài bì không còn rõ nữa, nhưng lành lặn sạch sẽ. Thư không dán tem. Một người bạn anh Lai đã cầm về - Long giải thích và đứng dậy đi về phía cửa sổ.
Trong phần đầu lá thư gửi cho Luật sư. Lai đã kể về cuộc sống của anh khi chuyển sang đơn vị mới. Bằng vào thư thì những gì anh đã trải qua trong những ngày này đều tuyệt vời hết sức. Cái giọng điệu “từng trải” trong thư, hẳn Lai rất hay dùng với Long, tuy không phải lúc nào anh cũng thành công. Nhớ đêm ấy Long đã tỏ ra ngờ vực hết sức khi nghe Lai nói về mặt trăng. Thậm chí nó còn hỏi thẳng thừng có phải chuyện của anh là bịa không.
Còn phần sau của thư - cứ theo ngày tháng thì phần sau viết cách một khoảng thời gian dài.
“Luật sư ơi, bọn anh giờ bắt đầu vào cuộc rồi. Có kể em cũng không hình dung hết được những gì bọn anh đã qua đâu. Em còn nhớ anh Kiệm không? Cái cậu beo béo, hay cười, cùng đi một đợt với anh ấy. Cách đây hai ngày anh và các bạn anh đã mai táng cho Kiệm cùng hai người nữa. Riêng Kiệm, thật thương tâm - thi hài cậu ấy chỉ là một mảnh áo…
Cứ qua một đợt đơn vị lại vơi đi. Rất có thể ngày mai trong số vơi đi tiếp theo sẽ có anh. Nhóc vẫn hay giễu cợt, rồi lại bào chữa cho tính hay bịa đặt của anh. Nhưng trong những điều anh sẽ nói sau đây - em phải tin và đừng hỏi lại nhé. Trong khoảng thời gian thuộc về mình này sao anh nhớ Hà Nội, nhớ đêm trước mấy ngày nhập ngũ của anh - nhớ đến cồn cào. Tên chị ấy là đêm. Thật may mắn cho anh làm sao, vì như thế lúc này anh có cảm giác như chị ấy đang đứng ở đâu đó rất gần anh thôi. Cô bé có vầng trán thẳng dưới mái tóc hất ngược về phía sau… Vầng trán và đôi mắt - mỗi lúc nhớ lại anh không khỏi liên tưởng đến những đám mây trắng, thứ mây vẫn thảnh thơi bay trên bầu trời, trong những sáng hè yên tĩnh…
Nếu ngày nào đó anh hỏi địa chỉ thì trong từng ấy năm anh đã có thể biết được những gì đã đến với “cô bé” của anh. Giờ đây nếu sau trận pháo này - anh có mặt trong số vợi đi, thì nghĩa là cuộc gặp gỡ sẽ không bao giờ có. Luật sư sẽ bào chữa cho anh thế nào nhỉ? Anh đã chia tay không hề tìm cách biết thêm ngoài một đôi điều chị ấy đã nói, và cũng không hề tỏ ra cần biết tiếp về những gì sẽ đến với chị ấy. Ðêm trôi qua dưới một vầng trăng màu đỏ, dòng người đổ đi vô tận qua các ô, lời kêu gọi của Gớt Hôn… Những ngày tháng dữ dội và khốc liệt đã bắt đầu, vậy mà tại sao anh lại chia tay với Miên như chia tay một cô bạn cùng phố - hết hè rồi sẽ gặp lại. Tại sao thế?
Nhưng thôi tìm cách giải thích những trạng thái tâm lý để làm gì. Tất cả đều kỳ lạ… chỉ chút nữa thôi mặt đất sẽ rung chuyển vì pháo của bọn anh và pháo của bọn nó, vậy mà, Nhóc có tin không - anh nghe thấy cả tiếng cá quẫy đấy. Anh đã để hụt nó. Lúc ấy em thở dài mới khiếp chứ. Lại còn bực lây với cả Gớt Hôn. Con cá hẳn không nhỏ. Nhưng anh có thể chú ý được đến điều ấy chăng - khi mà, trong cái dáng đang vươn về phía trước, chị ấy sao mà giống như bông hoa loa kèn ở góc vườn đến lạ lùng?
Bông hoa vươn thẳng, hắt một tia sáng trắng dịu lên vầng trăng đỏ ối - lúc này đây - giữa không gian khét lẹt và nóng bỏng, anh đã gặp lại hình ảnh này…”

Ðọc tới đây, Vịnh ngừng lại. Anh để tập bản thảo xuống bàn, nơi từ đó đang vang lên tiếng con sâu nghiến vào gỗ kèn kẹt, rồi đưa tay lên xoa mãi vào trán và mắt.
Cái đêm ấy - trong cuộc chiến tranh vừa qua, phải chăng niềm tin ở mỗi chúng ta đều dựa trên những điểm tĩnh đầy thơ mộng như thế, và với niềm tin đó chẳng có sự tàn bạo, khốc liệt nào đè bẹp nổi? Mọi người trong phòng im lặng. Họ đang theo đuổi ý nghĩ gì?
Phần mình, tôi nghĩ chỉ thấy trước mặt một đầm nước rộng mênh mông, bên đầm nước - trong yên tĩnh đầy tin cậy giấc ngủ hồn nhiên của cậu Luật sư và Miên. Làm sao không ngủ được khi vì sao của Lai đã rụng - Khuya lắm rồi… Làm sao không ngủ được khi hai tiếng “đừng sợ” đầy trìu mến đã cất lên? Bên giấc ngủ thật sâu của bông hoa và cậu bé ấy - Lai có biết rằng anh đã thực sự lên đường?
Nhưng kia - có tiếng chân ai vang lên ngoài hành lang… Tiếng dép kéo, rồi tiếng gì đó khua rủng rẻng. Cửa phòng bật mở - và người thường trực của cơ quan xuất hiện với chùm chìa khóa to tướng.
- Chà, các vị - Giọng ông cáu kỉnh. Sao giờ này mà chưa gửi chìa khóa? Bộ không cho người ta ăn cơm nữa sao? Họp thì phải báo trước chứ!
- Xin lỗi bác, chúng tôi có chút việc.
Nở một nụ cười xin lỗi với người thường trực, Vịnh quay sang mọi người:
- Chúng ta về thôi chứ nhỉ?
- Kẻng hết giờ lúc nào mà không nghe?
Trong tiếng ghế xô, tiếng chân bước và tiếng cặp lồng va chạm, anh cán bộ đời sống nói to, hẳn cố ý để người thường trực nghe thấy. Ðúng vào lúc này, chuông đồng hồ của thành phố điểm sáu tiếng.
- Ðúng là ngày tháng mười. Mới sáu giờ mà đã tối là tối.
Trên dãy hành lang, lặng tanh vẫn tiếng anh cán bộ đời sống vang lên.
- Cậu về đâu? Ði bên tôi Linh khẽ hỏi.
- Cuối phố Huế - Tôi trả lời chị.
- Xa nhỉ. Mà cậu có gần chỗ bị bom không? Buồn cười, ngày mới lấy nhau “ông nặn tượng nhà mình” cứ lôi mình đến đấy suốt. Chả là dạo đó bạn bè anh ấy đang đắp phù điêu. Về sau nghe đâu người ta đã bỏ nó.
- Phù điêu là gì? - Sự chen vào.
- Phù điêu trên bức tường của phố Huế - Anh không biết à? Linh hỏi lại Sự.
- ờ, ờ… mình là dân ngoại thành.
- Các vị nhanh chân lên một tý để tôi còn khóa cầu thang. Cơm canh nguội tiệt rồi!
Người thường trực lúc này đã xuống đến bậc thang cuối cùng - ông ta khua nắm chìa khóa lên và giục giã.
Cả mấy người chúng tôi cùng vội vàng rảo bước. Và trong sự vội vàng đó. Linh đã không nhắc lại câu chuyện về những phù điêu ở phố tôi. Thật may cho tôi, vì chính tôi - tôi cũng không hề biết những phù điêu ấy có còn hay không.



Hà Nội - Những ngày áp thấp Tháng 11 năm 1981


BàngHS st


= = =


(1) Khi đế quốc Mỹ ném bom Hà Nội và Hải Phòng ngày 16-4-1972, đoàn đại biểu Ðảng Cộng sản Mỹ lúc đó đang ở thăm nước ta đã ra lời kêu gọi này gửi nhân dân Mỹ.

Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2011

CHUYỆN VỀ THẰNG ĐÀN ÔNG THỜI NAY














Tại một phiên chợ vùng cao.
Bên một chiếc bàn gỗ mốc thếch, tôi ngồi uống rượu với một người bạn.
Bên cạnh có hai người đàn ông mặc quần áo chàm vừa nốc từng bát rượu đầy, vừa chằm chằm nhìn vào mặt nhau. Ngồi né ra xa một chút là một người phụ nữ váy áo thêu xanh đỏ, khắp người đeo không biết bao nhiêu vòng bạc lủng lẳng.
Suốt đến gần nửa tiếng đồng hồ chỉ thấy có một anh chàng nói, khi thì giận dữ khi thì nghẹn ngào, có lúc lại đắm chìm trong ưu tư như bị men rượu nhấn chìm. Can rượu to trên bàn đã vơi quá nửa, bỗng hai người đàn ông ôm chầm lấy nhau, nức lên rưng rức. Cái bàn ọp ẹp chao nghiêng làm hai bát rượu đổ tóe ra sàn.
Lẳng lặng nhìn hai gã đàn ông quá say, người đàn bà cúi xuống nhặt những chiếc bát đặt lại lên bàn, lẳng lặng mở nút cái can nilông cao đến hai gang, nghiêng can rót rượu tràn hai miệng bát. Xong xuôi lại trở về chỗ, lẳng lặng bâng quơ nhìn ra rặng núi giăng ngang trước mặt.
Bỏ qua những câu vòng vo mà tôi không nhớ mà cũng không hiểu hết thì tóm tắt lại là như sau:
- Thằng Xín Thau kia, mày uống hết cái bát ấy đi rồi nghe tao nói.
- Suốt đêm qua tao đau tức cái tim, đau quặn cái ruột. Tao đi theo vợ mày về đây tìm mày.
- …………………………
- Cái ngày bố mày theo ông thầy cúng đưa mày đến đón vợ mày về, tao buồn muốn chết. Tao đã bắn hết cả một túi thuốc, nhồi hết đạn chì thì nhồi sỏi sạn vào mà bắn. Đáy nòng vỡ ra, sẹo trên má tao vẫn còn đây này.
- …………………………
- Sau khi cưới, vợ mày nó bảo rằng tao đừng buồn, mày thương vợ lắm. Tao tin nó quá, thế là tao vui.
- …………………………
- Phiên chợ trước tao được tin nhắn là phiên này vợ chồng nhà mày sẽ đi. Tao đắp vội mấy khúc bờ ruộng cho xong, tao bỏ cái đám cưới trong bản ra đây để gặp vợ mày.
- …………………………
- Mày phải biết. Khi đi ra chợ tao vui quá, bỏ không bắn hai con chim to trên cành, bỏ không bắn một con nhím to trong bụi. Tao chỉ nghĩ đến cái lúc được gặp vợ mày. Thật đấy. Tao vẫn còn thương con vợ mày lắm mà.
- …………………………
- Đến lúc tao tìm được con vợ mày, tao vui đến chảy cả nước mắt. Tao lại hát lại cái bài mà ngày xưa lần đầu tao hát vào bên tai con vợ mày cái đêm đầu tiên tao gặp được nó.
- …………………………
- Thế mà, dắt nhau đi rồi, đèn tao chiếu vào tận mặt mà tao không còn nhận ra nó là cô con gái đẹp nhất bản.Giàng ơi.
Ngày xưa cái mặt ấy tròn như trăng rằm, hai cái vú nó tròn to như hai quả dưa chín, cái tay nó đẹp như mình con trăn trên cây, tiếng nó cười hay như chim hót làm nắng cũng cười theo, cái váy nó thơm như hoa rừng làm bướm cũng bay theo.
- …………………………
- Giàng ơi. Đêm qua tao chỉ thấy mặt nó cong méo như trăng hạ tuần, ngực nó nhăn như hai quả bí héo. Nó không cười, nó chỉ muốn khóc. Tao đau cái tim tao quá. Giàng ơi.
- …………………………
- Mày nói đi. Là thằng đàn ông, mắt mày có nhìn thấy vợ mày nó khổ hay không? Là thằng đàn ông, mắt mày có thấy vợ mày nó buồn hay không
- …………………………
- Mày là thằng tốt số nhất đời. Mày sinh vào lúc nào mà mày lấy được vợ mày. Mày thật là có cái tội to. Hôm nay tao định đánh mày. Tao thương con vợ mày quá.
- …………………………
- Lần này tao mang hai bao ngô giống. Tao không bán nữa. Mày mang về đi mà trồng. Phiên chợ sau tao gửi phân bón vào cho.
- …………………………
- Đến kỳ ngô trổ ra bắp, tao sẽ bảo mày cách đặt bẫy. Tao có bài thuốc, bẫy sập là lợn rừng ngấm thuốc không chạy được đâu. Tao sẽ cho mày. Nếu nhím sập bẫy, mày cứ bắt nguyên cả con mà mang ra chợ. Có người mua ngay. Ba cái dạ dày nhím sống là đổi được một con lợn giống thật to.
- …………………………
- Mày không được lười. Máy đói thì tao kệ mày. Nhưng vợ mày thiếu thóc thiếu ngô là tao đánh mày đấy.
- …………………………
- Thằng Xín Thau kia, mày có phải là thằng đàn ông hay không?
- …………………………
Hai gã đàn ông gục đầu vào nhau, rưng rức khóc trên hai bát rượu cạn khô.

Chuyện này tôi để trong lòng, thi thoảng kể lại. Nhiều người đã nghe, nhiều bà nhiều cô thích lắm. Các cô thích có được một người tình xưa cũ vẫn còn yêu mình. Các cô thích được như cô gái kia, lâu lâu được gặp lại người tình xưa mà không cần phải lén lút giấu chồng.
Các cô thích có một ngày, chồng mình ngồi uống rượu với người tình của vợ, để nghe nó nghẹn ngào nói thật to: Giàng ơi! Tao vẫn còn yêu vợ mày lắm đấy… Mày có biết không…
Bà nào cô nào cũng thích khi được nghe rằng:
‘’Mày mà còn để cho vợ mày nó khổ là tao sẽ đánh mày đấy… ‘’

Vậy mà, mấy ai đã được như cô gái kia. Đàn ông nó chết cả rồi hay sao…?



Ta'c Gia : Phạm Hoàng Hải
Nguon : bee.net

NTT & NVT sưu tầm

Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2011

BÁNH TRUNG THU BỊ CHUỘT ĂN

Tác giả: Chu Chí Quang;
Người dịch: Bảo Châu



Trung thu năm ấy, nhà tôi gặp chuyện không may: mẹ bị ốm không thể đi làm, nhà máy của ba ngừng sản xuất, ba phải đi kiếm việc linh tinh. Một vị giám đốc công ty nhìn thấy ba trung thực thật thà, bèn cho ba 1 túi bánh Trung thu, bánh ấy vốn chỉ dành cho công nhân chính thức của công ty. Túi bánh có tất cả 5 cái. Nhìn qua túi nhựa, thấy đề là bánh Ngũ Nhân. Buổi tối, cả nhà ngồi yên lặng vây quanh bánh Trung thu, bố chăm chú nhìn mẹ. Đứa em trai 7 tuổi dõng dạc hỏi: “Bánh Ngũ Nhân mùi vị như nào ấy nhỉ? Con chưa từng được ăn bao giờ !” “Con cũng chưa bao giờ được ăn”. Đứa em gái 5 tuổi cũng yếu ớt phụ họa theo. “Năm ngoái vừa mới ăn xong, làm sao đã quên rồi?” Tôi lúc đó 8 tuổi - lấy uy phong của thằng anh cả nạt nộ, miệng cũng nhỏ một vài nước dãi. Mẹ ngược lại dường như không nghe, không nhìn thấy gì, đẩy bánh lại phía ba nói: “Cho cụ Năm ở bên cạnh bánh nhé. Hôm qua cụ ấy mang cho nho nhà cụ trồng được, chúng ta cũng chưa có gì tặng lại” “Nho đó chua lắm!” Thằng em lăn ra. “Chua sao anh còn tranh của em?”. Đứa em gái thẽ thọt nói. Mẹ lại quả quyết đẩy bánh về gần ba chút nữa. Ba do dự đứng lên, cầm bánh Trung thu tỉ mỉ nhìn: “Chiếc bánh này hình như bị chuột cắn rồi.” Chúng tôi vây quanh, quả nhiên nhìn thấy bánh bị sứt một miếng, mà chỗ túi ni lông đựng bánh cũng bị rách một lỗ nhỏ. Chiếc bánh mà bị chuột cắn như thế này đương nhiên không thể đem tặng được nữa rồi. Ba anh em chúng tôi vui mừng hớn hở chờ ba xử lý cái bánh: ba cẩn thận cắt sạch chỗ bị chuột cắn đi, sau đó cắt cho anh em chúng tôi mỗi người được khoảng phần ba cái bánh. Bố dành miếng còn lại cho mẹ, mẹ cũng không ăn, hai người cứ đùn đẩy nhau. Cuối cùng miếng bánh đó để đến ngày thứ hai, lại dành cho chúng tôi. Lúc đó, mẹ lấy chút vụn bánh đưa lên miệng, rồi chút còn lại đặt vào miệng ba, nói: “Chúng ta cũng được ăn bánh Trung thu rồi, cũng ăn Tết Trung thu rồi”.


Nhiều năm qua đi, chúng tôi đều đã có gia đình riêng. Mỗi năm đến Rằm tháng 8 lại biếu ba mẹ bánh Trung thu. Lúc ăn bánh “đoàn viên”(1), chúng tôi đều nhắc đến câu chuyện vui năm xưa – Về chuyện con chuột gặm bánh, bọn trẻ vẫn vây quanh ba và hét to: “Ông chuột! Ông chuột!” Lúc đó, mẹ lại cười nói: “Lúc đó anh đùa, ai mà không nhận ra. Làm gì có con chuột nào ăn bánh Trung thu cơ chứ!”


=========
Chú thích: 1. Đoàn viên: Tết Trung thu ở Trung Quốc cũng là Tết đoàn viên, hội tụ các thành viên trong gia đình. Nên bánh Trung thu còn gọi là bánh Đoàn viên
(Theo Bách Hoa – Truyện ngắn TQ)