Thứ Bảy, 4 tháng 12, 2010

MƯA VÀNG KHƠI DẬY NỖI BUỒN




Thuở học trò, chúng ta đã biết bài thơ Đợi anh về nổi tiếng của nhà thơ Nga Konstantin Mikhailovich Simonov, do Tố Hữu dịch:

Em ơi, đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé,
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê
Thì em ơi cứ đợi…


Mười mấy năm sau, tình cờ tôi đọc trên báo Văn nghệ lời dịch Đợi anh về của nhà văn Trần Nhật Thu:

Em ơi đợi anh về

Hãy đợi anh những lúc

Mưa vàng khơi dậy nỗi buồn…


Thật bất ngờ và xúc động, tôi bỗng cảm nhận một Đợi anh về khác, với chất lãng mạn của thơ Nga. “Mưa vàng khơi dậy nỗi buồn” hoàn toàn khác với “Mưa cứ rơi dầm dề”.

Thế mới biết dịch thơ mà vẫn giữ được hồn thơ không đơn giản.




Trần Xuân Hòa (10H)

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2010

VUI MỘT CHÚT

Chuyện bác Ba Phi
- Bác Ba à, cho cháu vô phép hỏi sao bác Ba có tên là Phi hả bác?
- Cha chả cái thằng hỗn dữ! Dám điều tra lý lịch của tao hả? Đừng giỡn mặt khó làm việc nghe con.
- Dạ cháu hỏi cho biết vậy chớ đâu dám.
- Thì được, tao kể cho nghe… Xưa tao vốn là bà phi của vua Gia Long, chánh phu đàng hoàng à nghe. Hồi ổng bị Tây Sơn rượt đuổi, ổng sợ chạy tuốt vô miệt trong này, tao lo cho ổng chớ ai. Rồi ổng đi. Đến khi ổng lên làm vua, ổng cử một đoàn quan quân đem kiệu lọng vô định rước tao về ngoài ngoải đặng hưởng giàu sang phú quý nhưng tao hổng chịu. Mầy thấy đó, tao đi thì lấy ai tưới nước cho dừa, cho mắm, ai cho bầy rắn, bầy rùa và cả đàn cò nó ăn, bỏ đói chúng nó sao.
- Nè bác đừng có dóc. Trước bác là gái vậy sao sao bây giờ bác là trai?
- À… thì cũng như khoai ngọt, để lâu ngày nó mọc mầm ra thôi.
** *

Nhiễm sinh ngữ

Có anh chàng đến một quầy thuốc lá:
- Xin lỗi, có phải cô bán thuốc không ạ?
- Phải! Rồi sao? - Cô bán thuốc trợn mắt trả lời.
- Thật lấy làm tiếc nếu tôi có gì không phải mong cô thông cảm cho.
- Muốn hỏi gì đây… ông ngoại, thuốc hả? Mua thuốc gì thì nói, chứ…
Thoáng chút ngập ngừng anh chàng xoa tay nói:
- Ồ, vâng chính tôi sẽ là người mua thuốc lá do cô bán. Yêu cầu cô hãy bán cho tôi một điếu thuốc.
- Tướng ông sang như vậy mà mua một điếu là sao?
- Ồ, không… không. Xin cô hãy bán cho tôi một gói thuốc thôi.
- À, thì ra anh là người nửa trên trời nửa dưới đất - Cô ta cười.
- Tôi xin cô đừng giận, rất mong cô hiểu cho tôi. Tôi là người đang học cách đàm thoại sinh ngữ bằng tiếng Việt Nam trước khi chuyển qua tiếng Anh đó mà.
** *

Nhiễu thông tin

Chủ tịch xã điện sang ban văn hóa thông tin ý kiến chỉ đạo về nội dung, khẩu hiệu cổ động tuyên truyền “Kế hoạch hóa gia đình” của xã. Đây là đoạn chủ tịch xã lệnh cho anh trưởng ban văn hóa thông tin ghi: “Ba bốn con làm gia đình đông đúc sinh chuyện khó khăn”.
Lát sau như chợt nhớ ra điều gì, chủ tịch xã lại gọi điện thoại bổ sung: “Nếu còn chỗ trống thêm - một hai con mới là hạnh phúc”.
Sáng ngày tấm biển cổ động được treo lên với nội dung như sau: “Ba bốn con làm gia đình đông đúc sinh chuyện khó khăn, nếu còn chỗ trống thêm một hai con mới là hạnh phúc”.
** *

Thuế “cao mà thấp”

Xóm tôi có mấy hộ kinh doanh sống rất khỏe vì… thuế. Trước kia cứ 3 tháng, họ chịu đóng thuế tăng một lần, nay thì 6 tháng (bất kể quy mô vốn, doanh thu của họ có tăng hay không). Họ có làm đơn xin giảm thuế thì cũng không giải quyết.“Với kiểu này thì những hộ kinh doanh có thâm niên chắc phải đóng thuế cao lắm?”. Tôi hỏi vậy. Có người thành thật trả lời:
- Coi vậy chứ không bao nhiêu.
- Tăng chút ít chứ gì?
- Không phải, nhắm không chịu xiết thì tụi tui làm đơn xin nghỉ để khỏi phải đóng thuế, hàng hóa thu gọn lại. Vài tháng sau, làm hồ sơ xin đăng kí kinh doanh trở lại, lúc đó mức tăng thuế sẽ thấp hơn trước kia vài bậc… Cứ vậy mà làm.
- Ngẫm lại bà con mình “thông minh” thiệt.
Đôđh (10H) st

NGÀY HÈ ĐÁNG NHỚ

Lớp 10B thường xuyên gặp mặt mỗi năm. Tháng 8 năm 2009, lớp đã tổ chức đi Bái Tử Long - Quảng Ninh. Xin giới thiệu chùm ảnh hoạt động của lớp những ngày này:




1- Thu, Mai, Nguyễn Sơn, Nguyễn Hằng, Thu Hà, Thái Hà, anh Thịnh (chồng Nguyễn Hằng)








2- Đội bóng(?): Anh Dũng, Thái Hà, Trung, Nguyễn Hằng, Mai, Thu, Thu Hà, Nguyễn Sơn.










3- Anh Bảo(lái xe), Anh Dũng, Thái Hà, Thu Hà, Nguyễn Hằng, Mai.






4- Sưởi nắng: Thu Hà, Trung, Thái Hà, Mai, Nguyễn Hằng




Vũ Thái Hà (10B)

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

ĐỢI ANH VỀ




Konstantin Mikhailovich Simonov sinh 1919 tại thành phố Sankt-Peterburg là một nhà văn, nhà thơ và nhà biên kịch Liên Xô nổi tiếng với những tác phẩm viết về Chiến tranh giữ nước vĩ đại. Có lẽ tác phẩm được biết tới nhiều nhất của Simonov là bài thơ Đợi anh về (Жди меня), một trong những bài thơ hay và được biết đến nhiều nhất của Văn học Xô viết trong Thế chiến thứ hai.

Tháng 10 năm 1941, trong khi quân Đức đang tiến như vũ bão về thủ đô Moskva và Hồng quân đang lâm vào thế phải chống đỡ rất khó khăn, Konstantin Simonov đã cho ra đời bài thơ Đợi anh về (Жди меня).

Ban đầu, bài thơ được sáng tác với ý định dành tặng riêng cho người yêu của tác giả là nghệ sĩ Valentina Serova, nhưng tình cờ tâm trạng của người lính trong bài thơ đã trùng với tâm trạng chung của hàng triệu người lính Hồng quân đang chiến đấu trên mặt trận, vì vậy "Đợi anh về" đã nhanh chóng trở nên phổ biến ở Liên Xô và sau đó là nhiều nước khác trên Thế giới.




Em ơi, đợi anh về
Đợi Anh hoài Em nhé,
Mưa cứ rơi dầm dề
Ngày cứ dài lê thê
Thì Em ơi cứ đợi.
Dù tuyết rơi gió nổi
Dù nắng cháy Em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi Anh hoài Em nhé.
Tin Anh dù vắng vẻ,
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì Em ơi, cứ đợi.
Em ơi, Em cứ đợi
Dù ai nhớ thương ai
Chẳng mong có ngày mai
Dù mẹ già con dại
Hết mong Anh trở lại


Dù bạn viếng hồn Anh
Yên nghỉ nấm mồ xanh
Nâng chén tình dốc cạn
Thì Em ơi mặc bạn
Đợi Anh hoài nghe Em
Tin rằng Anh sắp về.
Đợi Anh, Anh lại về
Trông chết cười ngạo nghễ
Ai ngày xưa rơi lệ
Hẳn cho sự tình cờ
Nào có biết bao giờ
Bởi vì Em ước vọng,
Bởi vì Em trông ngóng
Tan giặc, bước đường quê
Anh của Em lại về.
Vì sao Anh chẳng chết
Nào bao giờ ai biết
Có gì đâu Em ơi
Chỉ vì không ai người
Biết như Em chờ đợi.



1941
ThuNV(10H) st

Thứ Hai, 29 tháng 11, 2010

Nữ sĩ Kaputikian và bài thơ “Sao mà anh ngốc thế”

Hồng Thanh Quang (Minh Huyền)





Ngày 29-8-2006 tại Erevan đã cử hành trọng thể tang lễ nữ thi sĩ Armenia nổi tiếng Silva Kaputikian. Bà sinh ngày 5-1-1919 trong một gia đình giáo viên và qua đời vào sáng sớm ngày 25-8-2006. Ở Việt Nam, tuy không có nhiều tác phẩm của Kaputikian được phổ cập nhưng từ lâu gần như ai cũng biết tới bài thơ lừng danh của bà qua bản dịch của một dịch giả vô danh.
Nói không ngoa, bài thơ này có mặt trong tất cả các cuốn sổ tay của nhiều thế hệ những người yêu thơ ở Việt Nam. Có điều, không nhiều người ghi đúng tên tác giả đích thực của bài thơ mà lại hay “đổ vấy” cho những thi sĩ khác như Olga Bergols hay thậm chí cả... Evgueni Evtushenko! Toàn bộ bài thơ như sau:

Да, я сказала: "Уходи"...
(Silva Barunakova Kaputikian - Сильва Барунаковна Капутикян, Acmeni)

Да, я сказала: "Уходи",
-Но почему ты не остался?
Сказала я: "Прощай, не жди",
-Но как же ты со мной расстался?
Моим словам наперекор
Глаза мне застилали слезы.
Зачем доверился словам?
Зачем глазам не доверялся?

Dịch nghĩa:
Vâng, em đã nói "hãy đi đi"
Nhưng tại sao anh không đứng lại?
Em đã nói "hãy chia tay, đừng chờ đợi"
Sao anh lại rời xa em?
Lời em nói chứa đầy ngược ngạo
Mà mắt em tràn nước mắt
Tại sao lời nói thì được tin?
Tại sao đôi mắt lại không được tin?

Bài dịch ( Dịch giả vô danh )

Em bảo anh đi đi,
Sao anh không đứng lại?
Em bảo anh đừng đợi,
Sao anh lại về ngay?
Ôi lời nói gió bay,
Đôi mắt huyền đẫm lệ.
Sao mà anh ngốc thế
Không nhìn vào mắt em?

Bài thơ này tôi cũng đã thuộc lòng từ hồi nhỏ. Và cũng như rất nhiều người khác, tôi không biết tên dịch giả cũng như tác giả đích thực của nó. Chỉ khi sang du học ở Liên Xô, trong một lần đọc tuyển tập thơ tình bằng tiếng Nga, lần đầu tiên tôi mới biết tới cái tên nữ sĩ Kaputikian với rất nhiều tác phẩm hay, trong đó có bài “Em bảo anh đi đi...”. Và càng đọc những bản dịch thơ bà ra tiếng Nga, tôi càng cảm thấy thích thú giọng điệu trữ tình vừa thủ thỉ vừa can trường của Kaputikian. Thậm chí đã có lần tôi còn thử dịch bài thơ trên của bà theo cách cảm nhận riêng của mình:

Phải, em đã bảo “Đi đi!”,
Nhưng sao anh không ở lại?!
Em cũng đã bảo chia tay,
Nhưng sao anh về ngay thế?!
Chao ôi, những lời con gái!
Mắt em lệ đẫm mi rồi...
Anh tin làm gì câu nói!
Mắt em, sao chẳng soi lòng?!.

Kaputikian bắt đầu in thơ từ năm 1933. Bà là tác giả của hơn 60 tập sách. Thơ bà từng được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới...
ThuNV(10H) st

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

CHUNG TAY


Bạn Trần Xuân Hòa (đại diện báo Thanh niên tại miền Trung) với hoa hậu Trái đất ( Miss Earth) ngày 17/11/2010

Nguyentraik22

Kỷ niệm về các Liệt sỹ

Y Hòa K7 Trỗi-K22 Nguyễn Trãi Hà nội,


Nguyễn Chấn Hưng K22 Nguyễn Trãi Hà nội


và Ngô Tất Thắng K7 Trỗi-Cựu hs Chu Văn An Hà Nội.


Nhân ngày thành lập QĐNDVN 22-12 nhớ về những người bạn cùng quân ngũ
như Y Hòa, Nguyễn Chấn Hưng K22 Nguyễn Trãi Hà Nội.


Ngô Thái Hòa



Kỷ niệm không thể nào quên với những người lính Học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi anh hùng như Liệt sỹ Y Hòa (Mlo dzuon dzu) K7 , Liệt sỹ Ngô Tất Thắng K7 và Liệt sỹ Nguyễn Chấn Hưng K22 trường Nguyễn trãi Hà Nội.




Ngày 06.01.1972 học sinh, sinh viên Hà Nội chúng tôi nhập ngũ một lúc 25 tiểu đoàn bộ binh,sau khi chúng tôi nghe lời kêu gọi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc ở núi Nùng, Bách Thảo, Hà Nội. Lớp trẻ Thủ đô ngày đó sục sôi bầu nhiệt huyết muốn đem sức trẻ phụng sự Tổ quốc và công cuộc giải phóng dân tộc nên hầu hết chúng tôi đều viết đơn tình nguyện nhập ngũ,nhiều bạn còn viết đơn bằng máu của chính mình thể hiện quyết tâm đi giải phóng miền nam như Y Hòa(Học sinh lớp 9H và 10G K22 Nguyên Trãi Hà Nội cùng tôi), Vũ Trung, Ngô Tất Thắng...
Tôi được biên chế vào Đại đội 42, tiểu đoàn 54, trung đoàn 59 quân tăng cường cho mặt trận Quảng Trị của Bộ tư lệnh Quân khu Thủ Đô. Đại đội tôi có những học sinh trường Trỗi như Y Hòa K7(em của Y Nguyên K5, GS-TS hiệu phó Trường Đại học Tây Nguyên, nay về hưu, đang tu tập Phật học và võ công ở Trúc Lâm thiền viện, Quảng Ninh), Ngô Thái Hòa K6+7, Ngô Tất Thắng K7, Vũ Trung K8, Hồ Phương Bình K7, Phan (xy) K7, Nguyễn Trường Vỹ (gỗ) K7,...và có rất nhiều học sinh trường PTTH Nguyễn Trãi và Chu Văn An Hà Nội như Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Lương Hòa, Nguyễn Chấn Hưng,...Chúng tôi tập trung ở Tây Mỗ và Đại Mỗ Hà Nội khám sức khỏe lần cuối và phát toàn trang thiết bị súng ống đạn dược sau đó đi bộ 70km lên Bãi Nai, Lương Sơn, Hòa Bình. Y Hòa do bi viêm cầu thận cấp, có biểu hiện áp huyết rất cao, được nữ bác sỹ K.Ny (V 108) khám và quyết định trả về đi học tiếp, nhưng Y Hòa kiên quyết xin được nhập ngũ để được đi miền Nam chiến đấu.

Sau hai ngày đi bộ lên đến nơi là bãi đất trống, chúng tôi hạ ba lô là vác xẻng quân dụng vào rừng chặt cây, tre, nứa về dựng lán trại, sau đó là những tháng ngày luyện tập kỹ chiến thuật đáp ứng cho chiến trường phía nam. Y Hòa và Ngô Tất Thắng luôn luôn là những chiến sỹ gương mẫu trong rèn luyện, nắm vững kỹ chiến thuật, thương yêu đùm bọc đồng đội, nhất là những đồng đội là bạn Trỗi thời thơ ấu. Trong đợt bắn đạn thật bia số 4 cự ly 100 mét và bia số 7 cự ly 200 mét ( bắn đêm), Y Hòa và Ngô Tất Thắng đều đạt thành tích xuất sắc, được biểu dương toàn tiểu đoàn .Hồi đó Y Hòa đã có người thương là Hoàng Dung, cô bạn cùng lớp 10G trường PTTH Nguyễn Trãi, Ba Đình, Hà Nội, nhưng Y Hòa rất kiên định và không bao giờ tỏ ra yếu đuối và biểu lộ sự nhớ nhung thái quá ra ngoài. Ngô Tất Thắng thì sôi nổi và mơ mộng hơn, bận thì thôi, rảnh là Thắng viết nhật ký hay viết thư, hành quân mệt đến đâu, nhưng hạ ba lô là thấy Thắng hý hoáy viết hay ghi chép rồi. Người nhận thư nhiều nhất đơn vị là Ngô Tất Thắng, vì ngày nào Thắng cũng viết thư và nhận thư của Tg BH K7, học sinh của trường PTTH Chu Văn An, Ba Đình, Hà Nội và bạn bè gần xa. Trong đại đội 42 Vũ Trung là người đẹp trai nhất, có tài dạy chó, bất cứ con chó nào của dân bản hay của đơn vị đều quấn quýt và nghe lệnh của Vũ Trung răm rắp. Nhưng người lính đào hoa nhất đại đội là Hồ Phương Bình, thứ bảy hay chủ nhật nào Hồ Phương Bình cũng có vài bóng hồng từ Hà Nội lên thăm hỏi động viên. Mình , Nguyễn Chấn hưng ...và Nguyễn Trường Vỹ không có ai thăm hỏi nên thường hay ra bờ suối gần đơn vị tâm sự nhớ về những bạn bè trường Trỗi và PTTH ở Hà Nội mà cả hai cùng có nhiều kỷ niệm chung thời thơ ấu. Nguyễn Chấn hưng , Nguyễn Lương hòa,Y Hòa và Nguyễn thanh Sơn cùng ở khu tập thể 5B Hoàng hoa Thám Hà nội cùng với tôi. Nguyễn Chấn Hưng hiền lành ít nói và hay giúp đỡ đồng đội lúc kho khăn, một tiểu đội phó gương mẫu của C42D54E59 quân tăng cương cho Mặt trận Quảng Trị của BTL Thủ Đô năm 1972. Nguyễn Chấn hưng hay hát và hát cũng rất hay. Sau bảy tháng huấn luyện tích cực và căng thẳng ở Bãi Nai, Lương Sơn và Tân Lạc, Hòa Bình, chúng tôi lên đường bổ xung cho mặt trận Quảng Trị.


Trên đường vào Nam, tôi được lệnh chuyển đơn vị gấp theo sự điều động của cấp trên. Không kịp chia tay với những anh em Trỗi khác, chỉ kịp gặp và chia cho Y Hòa, Chấn Hưng, Thanh Sơn thuốc tăng lực và sâm Cao Ly, đồng thời hẹn gặp lại các bạn khi chiến tranh kết thúc, khi giải phóng miền nam. Thật không ngờ đấy là lần gặp mặt cuối cùng với Y Hòa và Chấn Hưng, hai bạn đã anh dũng hy sinh và vĩnh viễn nằm lại Quảng Trị. Báo của sư đoàn 312 sau đó có đăng tin biểu dương gương chiến đấu vô cùng dũng cảm và kiên định của Y Hòa, trung đội trưởng trung đội hỏa lực 12 ly 7 đã quyết tử khi chốt chận trên Đồi Cháy gần thành cổ Quảng Trị,hy sinh ngày 15 tháng 10 năm 1972. Đối với Ngô Tất Thắng, sau khi giải phóng miền nam, Thắng theo học lớp Báo chí khóa 2 của khoa Báo chí trường Nguyễn Ái Quốc TƯ, rồi về làm phóng viên của báo Quân đội nhân dân. Bạn đọc trong cả nước và bạn bè gần xa háo hức chờ đợi những tác phẩm tiếp theo của Thắng sau khi nhà văn trẻ cho ra mắt tác phẩm "Sau cành Violet", tiểu thuyết trinh thám ái tình rất ăn khách trong thập kỷ 80, báo hiệu một ngôi sao đang dần tỏa sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Một buổi chiều cuối thu năm 1978 Thắng đến thăm và chia tay tôi ở 71 Hàng Trống, Hà Nội, để chuẩn bị lên đường đi chiến trường Cam Pu Chia. Khi đó tôi là thư ký tổng hợp kiêm biên tập viên Ban Nhà nước và Quốc phòng của Báo Nhân dân. Tôi tặng Thắng một cây bút bi Anh Hùng và động viên Thắng lên đường may mắn và mong bạn có nhiều phóng sự hay và nóng bỏng gửi về từ chiến trường. Sau đó nhiều bài vở và phim ảnh nóng bỏng khói súng của Thắng từ chiến trường tới tấp gửi về được báo QĐND, Nhân dân và nhiều báo đăng tải. Ngày 7 tháng 1 năm 1979 trong không khí cả nước vui mừng đón tin thắng trận từ mặt trận phía tây nam và Cam Pu Chia, thì trong buổi giao ban , cả phòng họp lặng đi chia xẻ với đại tá Ngô Từ Vân, Cục trưởng Cục Xuất bản quân đội, (Thân sinh của Ngô Tất Thắng) khi nghe tin nhà văn, nhà báo Ngô Tất Thắng đã anh dũng hy sinh khi đang thao tác nghiệp vụ của người phóng viên chiến trường trên tháp pháo của chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào giải phóng thủ đô Phnôm Pênh của Cam Pu Chia, thành lũy cuối cùng của bọn diệt chủng Khơ me đỏ.
Từ đó đến mãi mãi về sau những bạn Liệt sĩ trường Trỗi nói riêng và những bạn liệt sỹ trường Nguyễn Trãi nói chung và các bạn Y Hòa, Ngô Tất Thắng và Nguyễn Chấn Hưng vẫn sống mãi trong tâm tưởng của anh chị em Trỗi chúng ta. Riêng tôi thì không thể nào quên những kỷ niệm thời thơ ấu ở trường Trỗi, ở trường PTTH Nguyễn Trãi Hà Nội và ở trong quân ngũ với các bạn Y Hòa, Ngô Tất Thắng và Nguyễn Chấn Hưng.
Mời các bạn vào link này tham khảo:
http://bantroi.blogspot.com/2010/07/gac-but-nghien-len-uong-chien-au.html
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/4/232/232/118987/Default.aspx


Ngô Thái Hòa

(Ảnh thứ tự từ trên xuống dưới: Y Hòa, Ngô Tất Thắng, Nguyễn Chấn Hưng)