Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

LỚP 10G NHỚ BẠN

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi nhớ của lớp tôi về những người lính đã hy sinh vẫn chưa nguôi ngoai…


Khi chưa đến mùa thi
Hoa phượng còn dang dở
Bạn tôi xếp bút nghiên
Khoác ba lô ra trận
Chia tay cười rất đậm
Đến giờ còn nghe vang.

Chiến trường nhiều khói lửa
Cánh rừng, dày hố bom
Máu loang, dòng suối chảy
Bạn tôi mười tám tuổi
Từ buổi ấy không về…

Chao ơi mùa thi đến
Hoa phượng còn rưng rưng!
Thương bạn khi nằm xuống
không kịp về đi thi.


Lớp mình, ngày gặp mặt
Bạn không về liên hoan
Bát cơm, nhòa nước mắt
Bạn bè, thầm gọi tên…


Ngọc hà

ĐỀ NGHỊ 04

Mùa Xuân đang đến. Với mùa Xuân có rất nhiều điều để nói. Con cháu chúng ta bước vào tuổi thanh xuân tiếp bước tuổi thanh xuân mỗi người chúng ta. Ta đã qua những mùa Xuân đầy kỷ niệm và tiếp tục đón đợi những mùa Xuân hy vọng với một cách nhìn đã qua nhiều trải nghiệm.
Blog mong muốn mọi người gửi nhiều bài cho mùa Xuân: những ý kiến trao đổi, những bài văn thơ về cảm nghĩ mùa xuân, tranh ảnh hay các đoạn video... Mong rằng chúng ta đề cập cả những suy tư, những hoài niệm và những niềm tin của mỗi người chúng ta.
Hãy trải lòng mình với mùa Xuân và bạn hữu. Blog của khóa chúng mình mong chờ các bạn.

Bloggers

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Gác bút nghiên lên đường chiến đấu

Báo Quân đội nhân dân online có đăng bài viết về liệt sĩ Y Hòa k7, Nguyễn Lâm k5 và các liệt sĩ HN khác hy sinh tại chảo lửa Quảng trị trong những ngày hè đỏ lửa. Đáng lẽ bài viết này được đăng trên báo giấy nhưng không kịp ngày thương binh liệt sĩ 27/7. Bài do Sơn, bạn cùng khu TT 5B-Hoàng hoa Thám với Y Hòa và cũng là bạn của chúng tôi kể lại. Sơn là người luôn đau đáu đi tìm mộ của các bạn,để đưa các bạn về với gia đình. Chính Sơn và các đồng đội dựng cái am để thờ các liệt sĩ đã hy sinh tại đồi Chè (Cháy) Quảng Trị. Xin giới thiệu bài viết của Phan đức Tuấn do Sơn kể lại.

Quảng Trị: Linh thiêng đêm tri ân các anh hùng liệt sĩ
Nguồn:http://www.tin247.com



"QĐND Online- Tổ quốc bị chia cắt, như bao người con khác của cả nước, có một nhóm những người bạn học ở Khu tập thể Hoàng Hoa Thám (Ba Đình, Hà Nội) cùng nhau nhập ngũ. Họ xung trận, chiến đấu ở nhiều chiến trường, trong đó có trận chiến ác liệt ở Thành cổ Quảng Trị. Đất nước nở hoa chiến thắng, không ít trong số họ mãi nằm lại trong lòng đất, gia đình, đồng đội chưa thể đón họ về…Bởi thế, những người còn sống luôn trăn trở, họ làm mọi cách để đi tìm đồng đội của mình…Câu chuyện dưới dây là một ví dụ do Đại tá Phan Đức Tuấn, nhân vật trong bài, đồng thời cũng là “đồng tác giả”, hiện là Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh cung cấp. Báo Quân đội nhân dân Online xin giới thiệu với bạn đọc"…

Đồng đội và người thân xác định nơi các liệt sĩ hy sinh
Chúng tôi sống cùng nhau từ bé do bố mẹ chúng tôi làm cùng cơ quan, cùng là cán bộ miền Nam tập kết, chúng tôi lại cùng ăn, cùng ở, cùng học một lớp với nhau nên chúng tôi thân nhau chẳng khác anh em một nhà. Trước khi về sống với bố mẹ ở Hà Nội, chúng tôi đã sống cùng với nhau trong trường nhi đồng học sinh miền Nam và các trường khác, theo trường đi sơ tán hết nơi này đến nơi khác trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ. Nguyễn Chấn Hưng quê nội ở Quảng Nam, quê ngoại ở Bình Định. Y Hòa là người dân tộc Ê Đê, quê ở Đắc Lắc, cả hai cùng sinh năm 1954, hơn tôi 1 tuổi. Chấn Hưng tính hiền lành, hay hát, Y Hòa hiếu động, chăm chỉ tập võ và vui nhộn, cả trường học sinh dân tộc miền Nam ai cũng biết. Tôi quê ở Quảng Nam, tuy nhỏ hơn một chút nhưng cũng có lúc làm ba mẹ không khỏi lo lắng vì những trò nghịch dại dột, thỉnh thoảng trốn học đá bóng, đi bơi… Sau khi Mỹ tuyên bố ngưng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra, năm 1969 chúng tôi lại trở về Hà Nội sống với gia đình trong khu tập thể 5B Hoàng Hoa Thám-khu Ba Đình, Hà Nội. Đó là khu tập thể của Ủy ban dân tộc Trung ương, nơi bố mẹ chúng tôi công tác. Về Hà Nội chúng tôi cùng học chung với nhau ở trường cấp 3 Nguyễn Trãi. Nơi đó chúng tôi lại có chung biết bao kỷ niệm đẹp về tình bạn tuổi mới lớn và những rung động đầu đời khi chợt thấy cô bạn gái cùng bàn bỗng trở nên xinh đẹp một cách kỳ lạ trong một chiều Hà Nội cuối đông. Tôi vẫn nghĩ không gì có thể chia cắt được tình bạn keo sơn của chúng tôi cho đến cuối đời…
Đầu năm 1972 học sinh, sinh viên Hà Nội đi bộ đội nhiều lắm. Cả nước đang dồn sức cho trận đánh quyết định ở Quảng Trị. Hưng có giấy gọi nhập ngũ. Tôi và Y Hòa bàn nhau xung phong đi cùng, chúng tôi không muốn xa nhau và cũng chẳng thích ngồi học trong khi bạn bè đã ra chiến trường cả. Chúng tôi kéo nhau đến nhà từng đứa để thuyết phục ba má. Chẳng có bà mẹ nào muốn cho con đi vào nơi hòn tên mũi đạn nhưng dường như việc 3 đứa cùng đi bộ đội một lần làm ba bà mẹ yên tâm hơn. Các ông bố thì tỏ ra rất hài lòng vì chợt thấy lần đầu tiên đứa con trai của mình lại trở nên nghiêm túc đến vậy.
Ngày 6-1-1972, ba chúng tôi từ giã tuổi học sinh, từ biệt gia đình vào bộ đội bắt đầu một cuộc sống mới sẽ gian khổ trong tập luyện và khốc liệt nơi chiến trường. Khu phố Hoàng Hoa Thám và học sinh các trường đại học, các trường phổ thông đi đợt này đông lắm. Chúng tôi gặp cả bạn bè, gặp cả các “đối thủ” trên sân bóng, gặp cả những đứa đã từng nện nhau tím mặt tím mày với chúng tôi trên đường phố. Khoác áo bộ đội, chúng tôi trở thành đồng đội, thành anh em sinh tử có nhau. Cùng nhập ngũ với tôi, Hòa và Hưng đợt ấy còn có Thái Hòa, Lương Hòa (hai Hòa ở lại đơn vị ngoài Bắc) cùng khu tập thể và Quyết, Vinh (cùng trường Nguyễn Trãi) và Đức ở Ngọc Hà… Vũ Trung (con trai bác Vũ Kỳ, thư ký Bác Hồ), Khoa, Hiển, Long… ở Thụy Khuê; Toàn, Hiếu, Long “đen” ở Bưởi… và có cả Lê Văn Nho (nhà ở 46 Hoàng Hoa Thám), Thấn cùng Hải (người dân tộc Khơ-me) bạn học lớp 10E và Đạt, Vỹ, Hai bạn Thắng ở Lý Nam Đế, Phương Bình ở Tràng Thi, Lâm ở Phan Đình Phùng (đang học đại học Thuỷ lợi thì nhập ngũ, sau chuyển sang Trung đoàn 56 và bổ sung vào Sư đoàn 325) vào bộ đội đã thân nhau và nhiều bạn khác mỗi khi nhắc lại đều thân thương.
Chúng tôi được huấn luyện tăng cường ở Đại đội 42, Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 59 Bộ tư lệnh Thủ Đô. Đến khoảng tháng 5, 6 năm 1972 thì được về phép thăm nhà 7 ngày để lên đường đi B. Ngày cuối của đợt về phép mẹ tôi chạy vạy khắp nơi để tìm mua 3 cái phao bơi cho ba đứa. Hồi kháng chiến chống Pháp, bà tham gia cách mạng và thường rất sợ mỗi khi phải bơi qua sông. Chúng tôi cũng chẳng biết đêm cuối bên những đứa con trai của mình, ba bà mẹ đã khóc hết bao nhiêu nước mắt, cũng không đứa nào biết được đó là lần cuối cùng Y Hòa, Hưng, Nho… và bao nhiêu chàng trai Hà Nội khác được nhìn thấy mẹ.
Tháng 7-1972 chúng tôi lên tàu hỏa tại ga Thường Tín-Hà Tây, đi ô tô qua các binh trạm hành quân vào đến một làng ven sông Lam ở Thanh Chương, Nghệ An, rồi bổ sung vào Sư đoàn 312. Chúng tôi không được ở cùng đại đội như khi hồi nhập ngũ nữa, tôi về Tiểu đoàn 17 Công binh, Hưng, Y Hòa và Vũ Trung về Đại đội 16, Trung đoàn 209. Thật ra ban đầu Y Hòa được biên chế về thông tin nhưng cán bộ đơn vị thấy trên tay có hình xăm xanh lè nên có ý không thích. Y Hòa cũng không tự ái gì mấy và nguyện vọng tha thiết xin được vào đơn vị cầm súng chiến đấu chứ không muốn ở tuyến sau. Sư đoàn chúng tôi hành quân theo đường binh trạm vào đến khu rừng ở huyện Quảng Ninh-Quảng Bình, trước khi xuống huyện Lệ Thủy để đi vào T70 (Bãi Hà). Chúng tôi gặp nhau lần cuối ở đó. Chiều hôm ấy ở ven một cánh rừng binh trạm, tôi cùng Hưng, Y Hòa và Vũ Trung ngồi bên nhau, chia sẻ cho nhau những gì còn lại sau chặng đường hành quân, dặn dò nhau nhiều điều. Lúc chia tay, hình như linh cảm xấu mách bảo tôi điều gì. Trong khi các bạn chỉ rơm rớm nước mắt thì tôi lại bật khóc như mưa, như gió. Suốt cả cuộc đời, chưa có bao giờ tôi lại khóc nhiều đến vậy. Y Hòa và Hưng dụi cặp mắt đỏ hoe, ôm lấy tôi ra sức an ủi. Chiều sẫm dần, tôi cố nén khóc men theo con đường rừng trở về vị trí dừng chân của trung đội, đi một quãng xa ngoái lại còn thấy hình dáng ba người bạn nhập nhòe trong bóng tối đang lan tỏa từ bìa rừng rồi lẫn vào hoàng hôn tím sẫm.

Tiểu đoàn công binh 17 cử 1 trung đội đi lẻ, phối thuộc ở Trung đoàn 165 và bảo đảm cho một bộ phận sư đoàn bộ vào trước chỉ huy tại Quảng Trị. Từ cuối tháng 7-1972 tôi theo trung đội làm nhiệm vụ khắp các vùng phía tây bắc thành Quảng Trị. Hết làm hầm chỉ huy ở khe Trai, khe Cóc, làm công sự tại Phượng Hoàng, Ái Tử, Đá Đứng… và các chốt, lại đi bố trí mìn, tham gia chốt cùng bộ binh trên những điểm chốt vùng bên Tân Lệ, Tân Mỹ, các chốt ven sông… Có một buổi chiều đầu tháng 9-1972 ở Ái Tử, tiểu đội trưởng nói tiểu đội tôi phải ở đây để sẵn sàng sang sông vào Thành đi với thủ trưởng. Khi chúng tôi đã đào xong hầm ven nền đường sắt, tiếng bom đạn cũng đã ngớt, tôi cùng Nguyễn Trọng Hưng, người ở Ninh Hiệp-Gia Lâm rủ nhau ra khỏi hầm đi kiếm mấy ngọn rau dại ăn cho đỡ xót ruột. Chúng tôi thận trọng bò sát mặt đất trườn xuống bãi đất vì tại đấy pháo địch bắn nhiều, OV10 bay suốt ngày trên đầu. Cạnh bờ sông nơi duy nhất, không hiểu sao còn có được chút màu xanh cây cỏ. Tôi đang ra sức ngắt thật nhiều những ngọn rau tàu bay và những nắm rau lá lốt nhét vào cái túi mìn Claymore đeo bên sườn thì chợt nghe Trọng Hưng gọi: “Sơn ơi, lại đây này”, tôi lom khom chạy lại. Trọng Hưng đang nằm phủ phục bên một dãy mộ 5 ngôi đất đắp còn mới nguyên, mỗi chiếc mộ có dựng một tấm bia bằng vỏ thùng lương khô, các tấm bia đều được đục tên các liệt sĩ, quê quán, đơn vị, nét đục bằng đinh tống chốt trong bộ phụ tùng khẩu AK trông thật vội vã, xiên xẹo.

Hưng chỉ cho tôi một tấm bia đề “Nguyễn Trọng Hiệp, Gia Lâm-Hà Nội, đơn vị Pháo binh” và nói giọng nghèn nghẹn: “Sao mà giống tên anh tao quá, cũng ở Gia Lâm, cũng ở Pháo binh mày ạ, lẽ nào…”.

Tôi cố át đi: “Thiên hạ thiếu gì người trùng tên. Chắc không phải đâu” nhưng rồi cả hai đều im lặng. Chúng tôi bốc đất bằng tay đắp điếm thêm cho mấy ngôi mộ, cũng chỉ là nghi thức chứ không đắp được cao hơn vì chỉ có tay không…

Mấy hôm sau trung đội tôi nhận lệnh về bến Đá Đứng, sông Ba Lòng, bờ bên Triệu Phong, bên kia là cuối thôn Như Lệ, Tân Lệ, Tân Mỹ gì đó để làm nhiệm vụ bảo đảm bến, chèo thuyền cao su vận chuyển đạn dược qua sông tiếp cho các đơn vị chốt bên thôn Như Lệ, Tích Tường, La Vang, động Ông Do, cao điểm 52. Đạn chở qua sông chủ yếu là H12, cối 60, 82, đạn 12,7mm, mìn ĐH 7… lúc này bên bờ sông thấy các đơn vị của Sư đoàn 325 về chốt cùng khu vực bên này sông với chúng tôi và tăng cường bên Như Lệ, Tích Tường, vì địch có ý định nống ra, sang bờ bắc sông Ba Lòng…

Tôi cũng chẳng phải là người thạo nghề sông nước gì nhưng đã từng bơi thuyền Peritxoa ở Hồ Tây nên được giao việc này. Việc chèo thuyền qua sông chỉ vào ban đêm dưới đạn pháo thật nguy hiểm, do bến bị lộ. Bên cao điểm 29 nhìn thấy bến, OV10 quần trên đầu từ sáng sớm, cho đến tối phát hiện được gì lại bắn pháo khói, gọi F4 đến ném bom hoặc chỉnh cho pháo dàn bắn, ngày nào cũng bị pháo dàn bắn đôi lần, hình như nằm trong bãi tọa độ, tuần nào cũng bị B52, vì mỗi lần bị B52 thì tại bến và chỗ hầm của trung đội bao giờ cũng bị dính loạt 3, còn loạt 1, 2 bên Như Lệ, các chốt bên Hải Lăng.

Mùa mưa nước sông chảy xiết, sang được đúng bến bờ kia thuyền trôi vài trăm mét là thường và vất vả lắm, trung đội không ai biết chèo thuyền nên tôi đảm nhiệm. Công việc này tuy nguy hiểm do đạn pháo bắn tại bến sông thường xuyên nên chúng tôi hay vớt được cá và có cơ hội kiếm được thuốc lào, thịt hộp để cho anh em trung đội cải thiện. Thỉnh thoảng tôi còn được gặp bạn nhưng chủ yếu là những người bị thương ở chốt, chuyển ra trạm phẫu. Có lần nhận được thư trên chốt, do đội vận tải đưa, thư viết nghuệch ngoạc, các đồng chí ấy trách sao chỉ có đạn mà không có thuốc lào và thịt hộp, mắm tôm… vừa buồn, vừa thương đồng đội, vì mình cũng chả có. Ở chốt còn có thể đi đâu được, làm được gì để cải thiện.

Lần nào chở đạn sang sông tôi cũng tìm cách dò hỏi tin tức của Hưng, Y Hòa, Nho và Vũ Trung những người bạn thân mà chẳng biết được gì. Tôi ở cách đồi Cháy chỉ khoảng 300m đường chim bay thế mà chẳng gặp được các bạn tôi. Cho đến một hôm khi chở thương binh từ phía bên Như Lệ về, tôi gặp một anh bạn cùng nhập ngũ, sau này gặp nhau kể lại mới nhớ tên là Quyết mới được biết Y Hòa và Chấn Hưng, Nho, Long “đen”, Long “cai”, Hiếu… đã hy sinh trong các trận đánh giữ chốt ở đồi Cháy làng Như Lệ và các nơi khác. Tôi đau đớn quá, nhưng không hiểu sao lại không khóc nhiều như lúc chia tay, có lẽ những trận đánh ác liệt, nhìn thấy đồng đội hy sinh nhiều đã làm chúng tôi trở nên cứng rắn hơn, cũng có thể nỗi đau ấy đã lặn vào trong sâu thẳm tâm hồn mà hút cạn khô nước mắt người lính trẻ chúng tôi.
Đại tá: Phan Đức Tuấn
Ngô Thái Hòa giới thiệu

Thứ Năm, 6 tháng 1, 2011

Nghĩ về một số "phản trường ca" (trích)

Đỗ Ngọc Thủy, một người bạn đồng khóa chúng ta, hiện đang định cư tại Canada, đang là một nhà thơ (bút danh Đỗ Quyên) được nhiều người biết đến . Bloggers xin giới thiệu một bài viết về các tác phẩm của "hắn"
Diêu Lan Phương
Đỗ Quyên là nhà thơ Việt viết nhiều trường ca nhất ở hải ngoại, và như Nguyễn Đức Tùng viết: “Xét riêng về thời gian, anh là một trong vài ba người làm mới sớm nhất trong những kẻ cách tân thơ Việt Nam ở hải ngoại”#. Trong các bản trường ca, anh bày tỏ nỗi trăn trở của một con người trong thế giới hiện đại, cô độc và đứng trước nhiều giá trị đang lung lay. Anh đặc biệt đặt thân phận mình trong sự chiêm nghiệm về thời gian, thời gian như một ám ảnh đối với thơ ca và con người. Trường ca Thơ thời gian của anh gồm 6 chương: chương mở, bốn chương chính và chương khép. Trong bốn chương chính, chương 1 – Thơ là gì gồm các phần: Thơ là gì?, Nhà thơ là ai; Người làm thơ về thơ; Tại sao thơ; ba lớp tường văn đàn Việt đương đại; Về Mở miệng. Chương 2 – Thời gian gồm: Tam thập nhi lập; Tứ thập nhi bất hoặc; Ngũ thập nhi tri thiên mệnh. Chương 3 và chương 4 đều là Thơ của thời gian (thời gian trong tương lai). Nhìn qua các đề mục, chúng ta thấy trường ca này đề cập chủ yếu đến mối quan hệ giữa thi ca và thời gian - Một vấn đề dường như rất nghiêm túc và cổ điển. Tuy nhiên, đối lập với những nhan đề, những câu trong trường ca nhiều khi mang tính giễu nhại, ví dụ phần Thơ là gì:Sinh một định nghĩa thơ/ giao hợp Tàu ta Tây tân cổ/ Trình làng/ cái của tôi/ đệ nhất thơ/ Là trường ca đây.
Ngôn ngữ Đỗ Quyên sử dụng là dạng ngôn ngữ thời @, đầy tính lai ghép, suồng sã, ví dụ: Ngủ nhắm một mắt chưa tài bằng ngủ lá phổi on lá phổi off/ Dạng cảm quan mĩ học ra cho vừa size thời đại…; ngôn ngữ đầy tính đối lập, như: Trời cho anh còn thơ/ Không còn là của đình/ Không còn là của chùa? Không còn là của cống/ không còn là của rãnh. Xuyên suốt thơ thời gian là biện pháp lặp; chẳng hạn như đoạn “Trời cho anh còn thơ/ Không còn là…”. Nhưng sự lặp lại không phải để nâng lên hay để làm rõ hơn một ý tứ nào đó như trước đây, mà là dường như để liệt kê những ý nghĩ, ý tưởng tuôn chảy; những ý nghĩ đôi khi chẳng đâu vào đâu, đôi khi vô cùng vớ vẩn, không thể xâu chuỗi, liên kết; đôi khi là sự tách từ, lắp ghép (Trời cho anh còn thơ/ không còn là của quốc/ không còn là của gia/ không còn là của xóm/ không còn là của làng…). Trường ca đã không còn khoảng cách cao xa với cuộc sống, thậm chí nó còn đậm mùi vị của cuộc sống, còn mang tính thời sự, cập nhật, tính ghi chép. So với Thơ thời gian thì Buồn muộn cùng thế kỉ là tác phẩm dễ đọc hơn, dễ cảm hơn. Và vì nó gần gũi với quan niệm thẩm mỹ của chúng tôi hơn nên có vẻ những ý tưởng nhân sinh mà tác giả gửi gắm dễ tìm được sự đồng cảm. Bản trường ca gồm 4 chương: Anh; Em; Con và Ta. Những đại từ đều liên quan đến điểm nhìn của từng phân đoạn. Từ các điểm nhìn ấy mà trải lòng, bộc lộ những suy tư về cuộc sống. Mà cuộc sống trong trường ca Đỗ Quyên đó là mọi vấn đề, là đời sống thường nhật, có lúc vô vị, có lúc ý nghĩa, có lúc chán nản, có lúc thăng hoa, có lúc bình yên, có lúc bão tố, có lúc nhỏ nhặt, có lúc lớn lao, và với đời thường thì những cái tầm thường thường chiếm chỗ nhiều hơn. Chung qui, anh nhìn thấy đời sống là những chảy trôi, mang nhiều tính vô định, chịu sự ăn mòn của thời gian khốc liệt; trong đó Em và Anh… tất cả đều mang vác sự cô đơn trong thế giới vô định của mình, trong dòng chảy thời gian ăn mòn cuộc sống. Cách viết của Buồn muộn cùng thế kỉ như một sự giãi bày, như một người thâm trầm đang chậm rãi kể lại câu chuyện của mình, một cách cặn kẽ và nhiều cảm nhận, nhiều lắp ghép như bản chất của hiện thực: Chỗ rách ở đầu gối cái quần jean/ Mặt hồ nổi những chiếc thuyền nhỏ/ Có hai người nằm nhìn trời qua rặng cây khé cất tiếng/ Câu đồng dao vòng quanh thành một vành đai (Các câu thơ ở đây đều là những mảnh ghép, ít có mối liên hệ với nhau). Cách viết của Đỗ Quyên, vì thế, mang đậm tâm thức của thời hiện tại và dấu ấn hậu hiện đại nằm trong chính tính chất của đời sống mà anh cảm nhận: mênh mang, vô định, những vòng xoáy sâu hút chênh vênh, khó tìm được ý nghĩa đích thực của thân phận làm người, khó tin tưởng được ở giá trị của tình yêu, tình vợ chồng, tình bạn… Ở một khía cạnh nào đó, có thể thấy, Đỗ Quyên đã thành công trong cách tìm tòi của riêng mình.
*
=====
Nhấn vào đây để xem toàn bộ bài theo đường dẫn:

http://vannghequandoi.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=6345:ngh-v-mt-s-qphn-trng-caq&catid=10:-tieu-m-vn-ngh&Itemid=20

Thứ Tư, 5 tháng 1, 2011

SỰ THÔNG THÁI TRONG TÁCH SOCOLA NÓNG

ĐôĐH st

HỌ LÀ AI?


Sau khi xem bài "Blog nguyentraik22.blogspot.com qua các con số", nhận thấy blog chưa có độc giả châu Phi, một số thành viên khóa ta muốn đề cử thêm các độc giả nơi đó. Các độc giả này cùng lứa với chúng ta và đã từng định cư tại Bình Châu (Châu Phi) năm 2009. Trước lạ sau quen. Buổi ra mắt đầu tiên kèm giới thiệu tác dụng thuốc đánh răng P/S. Nào! Chúng ta cùng làm quen và đoán nhận!

Botxoagana

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2011

CHUYỆN LỚP TÔI

Đã lâu rồi,lớp 10G của tôi mới có buổi gặp mặt vui đến thế. Kể từ hôm Hội khóa, các bạn tôi vẫn háo hức có buổi gặp nhau để ‘’buôn dưa lê’’. Có bạn tâm sự : họp Khóa vui thật đấy nhưng hơi “loãng”, thời gian ít quá, chưa bõ thèm, phải họp riêng lớp nữa…Hẹn hò mãi đến ngày 25/12 lớp tôi mới có cuôc hội ngộ tại phố Ngọc Hà – nơi gắn bó với tuổi thơ . Sau một chút ngỡ ngàng mọi ngườ i đều ồ lên vui sướng. Chả là, hôm đó có mấy nhân vật mới xuất hiện. ( Bình, Hòa, Khanh, Nhung…)
Đây rồi, bí thơ của lớp-Đinh trọng Hòa Bình, có bí danh Bình “Rù”, lúc nào cũng như người ốm nghén . Buổi đầu đến trường còn được Bố đưa vào nhận lớp. Ngày ấy , bọn con gái của lớp còn đoán thầm “Anh chàng này chưa chắc lấy được vợ “. Thế mà giờ đã lên chức “ Nhạc phụ “.
Còn nữa , một chàng ngày xưa trắng trẻo thư sinh, hắn lặn mất tăm mấy chục năm. Giờ đây bỗng xuất hiện với dáng người to đậm và phong cách rất ‘’Tây’’, cứ đòi thơm má các bạn “gái già’’. Hắn họ Ngô, tên gọi Thái Hòa. Các bạn nam vui quá, cứ nâng cốc hô vang ‘’Dô, Dô, Dô’’… hình như họ đang xúi nhau lập thêm “chiến tích’’, người ước được” cơi nới”, người mong có ‘’ nối bản”, người ra thông báo đã có “tập hai” …Đáng nể thật, đã ngoại ngũ tuần nhưng các bạn nam còn rất phong độ, thảo nào mơ mộng thế! Còn các bạn nữ tuy cuộc đời đã trải qua nhiều “biến đổi”, ( từ con Nai vàng ngơ ngác, đến con Thỏ non, rồi trở thành con Sư tử, và giờ hiện nguyên hình là con Cằn nhằn ). Sự tiến hóa kỳ diệu này hình như chưa được nêu trong học thuyết Đác-Uyn và từ điển sinh học không biết có nên bổ sung tên “ con Cằn nhằn “không nhỉ ? Mặc dù thế nhưng nếu thiếu nhân vật yêu quý này thì cả nhà nhốn nháo. Và lạ chưa, ở nhà họ “Oách” thế nhưng khi gặp nhau cũng ‘’Mày, Tao’’ xả láng…Mọi người đang mải đánh chén, thì bạn Dung gọi thêm đươc 2 bạn nữa Bình “bong” và Bằng,. nghe nói nhà vẫn ở gần ngay Ngọc Hà , Đội Cấn, vậy mà cũng lăn mất tăm bao năm. Sau một lươt bắt tay, bạn Bình “bong” nói “chẳng nhận ra ai cả”, thế là phải nhận ngay một cốc rượu phạt.
Mặc cho ngoài trời gió lạnh, mưa rơi…nhưng chúng tôi vẫn ngồi bên nhau ôn lại những kỷ niệm của cái thời ‘’Nhất quỷ , nhì ma’’…
Ngày xưa, lớp tôi thân nhau theo kiểu chia nhóm :
Nhóm1: các thiếu gia và tiểu thư ở phố nhớn như Hàng Bông, Cao Bá Quát, Cửa Nam…
Nhóm 2: các thiếu sinh quân con nhà binh
Nhóm3: Thảo dân ở phố nhỏ như đội Cấn., Ngọc Hà và các làng Vạn phúc, Đai yên, Cống Vị.. Họ tự đặt bí danh là nhóm “chân đất, mắt toét’’, tôi tự hào là thảo dân của nhóm đó.
Dù thế, nhưng chưa hề có chuyện tranh chấp, cãi cọ , chúng tôi rất coi trọng yêu quý nhau, thi đua nhau lập thành tích. Chỉ tiếc rằng, dù rất cố gắng nhưng 10G luôn kém 10H về khoản gánh đất đắp đê. Cho đến bây giờ tôi vẫn thấy ấm ức…vì đã gánh trẹo cả hai vai mà lần nào lớp mình cũng thua cuộc
Hôm nay , thật may có đủ đại diện của các nhóm và họ cùng điểm danh xem Ai còn , Ai mất , Ai lưu lac nơi xa… Đăc biệt mời được cả Bí thư của lớp hàng xóm cùng tham dự, hai lớp 10G-10H vốn thân thiết với nhau.
Chuyên xưa, vui như ngày Tết chẳng ai muốn ra về, nhưng cũng đành phải chia tay để bạn Thái Hòa còn kịp chuẩn bị hành lý lên đường sang Berlin. Trước khi về không quên hẹn nhau, hôm nào đó đi thăm mộ các bạn Thanh Bình và Tân nữa chứ. Trên đường về nhà, tôi cứ náo nức như trẻ thơ và tôi biết đêm nay sẽ khó ngủ…







1- Các bạn của lớp 10G ngày gặp mặt






2- Những bóng hồng



3- Đồng liêu trên phố Hoàng Hoa Thám




4- Nâng cốc nào!





5- Tiếp tục nâng cốc nào!




6- Người về từ nước DaThe




7- Tình hình phát triển đoàn bên chi đoàn ông sao rồi?



Nguyễn thị Mộng Mơ

MỘT GÓC TÂM SỰ


Một trong những hạnh phúc lớn nhất ở đời này là tình bạn, và một trong những hạnh phúc của tình bạn là có một người để gửi gắm những tâm sự thầm kín. (A. Manzoni)