Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Nhớ nhà thơ liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý

QĐND - “Bài thơ về hạnh phúc” của Dương Hương Ly là một trong những thi phẩm được sáng tác trong những năm kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt. Tác phẩm là tiếng lòng của nhà thơ với người vợ đã hy sinh của mình-nhà thơ liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý:

Thôi em nằm lại
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên…



Tác phẩm mở đầu bằng những dòng thơ giản dị, chân thành như lời nói của người chồng đối với linh hồn người vợ đã khuất. Giọng điệu thơ trầm lắng, nghẹn ngào trong một sự chia li đứt đoạn. Nỗi đau như lặn vào trong tâm khảm khi tác giả phải chấp nhận một sự thật xót lòng: Em không còn nữa. Nhân vật em được nhắc đến trong vần thơ đầu tiên là em của sự hy sinh. Cũng như bao người lính đã gửi mình trong lòng đất, em cũng nằm lại nơi mảnh đất chiến trường khi tuổi đời đương xuân. Sắc xanh nguyên của bầu trời chiến trường như bất tử hóa tuổi trẻ của em trong sự hy sinh. Chân thành đến nhói lòng, nỗi đau người vợ hy sinh được nhà thơ diễn tả sâu sắc, khi ẩn sâu khiến anh không thể nói bằng lời. Sự mất mát quá lớn lao ấy được so sánh như mất nửa cuộc đời. Nỗi đau tưởng sẽ làm người ta mềm yếu! Nhưng với nhà thơ chiến sĩ Dương Hương Ly, đớn đau càng hun nên sức mạnh chiến đấu. Người đọc không chỉ bắt gặp ở đây hình ảnh của một nhà thơ giàu cảm xúc mà còn thấy sáng lên hình ảnh một người chiến sĩ trong tư thế chủ động đối diện với quân thù. Nỗi đau của toàn dân tộc đã khiến anh và em ra trận, nỗi đau của riêng anh khi mất em đã hòa quyện vào nhau, khiến anh “tỉnh táo”, vững tay súng tiêu diệt kẻ thù.






Tác phẩm “Nhật ký chiến trường” của nhà văn-liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý, nhân vật trữ tình trong “bài thơ về Hạnh phúc” của Dương Hương Ly.Ảnh: Internet

“Bài thơ về hạnh phúc” được tác giả cấu trúc thành ba đoạn. Nếu như đoạn đầu tiên thể hiện nỗi đau của nhà thơ khi người vợ đã mất thì đoạn hai là đoạn hồi tưởng về em trong quá khứ anh hùng. Chính ở đoạn này, tư tưởng chính của bài thơ được đề cập đến. Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng/ Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra/ Cho đến ngày cất bước đi xa/ Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt. “Hạnh phúc là gì?”-câu hỏi đặt ra dễ dàng song để trả lời thực không hề đơn giản. Mục đích con người luôn hướng tới và cố gắng tạo dựng trong cuộc đời cũng chính vì hai chữ giản đơn đó thôi. Sự lúng túng của anh và em được giải quyết, khi hai người “cất bước” theo tiếng gọi của miền Nam. Hạnh phúc chỉ “ngộ” ra khi được cống hiến cho cộng đồng, cho dân tộc, khi cái Tôi biết hòa vào cái Ta chung.


Thời gian từ hiện tại đau thương đã bắt dẫn hồn người trở về với quá khứ, khi em vẫn còn sống. Hình ảnh của em hiện lên rõ nét ở mỗi giai đoạn của cuộc chiến tranh: Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt/ Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng/ Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng/ Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt/ Bao dốc cao em cần cù đã vượt… Quá khứ hiện về trong những tháng ngày anh và em ở rừng, vượt dốc. Hình ảnh của em được khắc họa chân thực, sinh động trong không gian của mùa mưa rừng, của sự thiếu thốn kham khổ: em xanh gầy, môi tái ngắt. Nổi bật nơi ngôn từ là hình ảnh một người phụ nữ kiên cường, giàu sức chịu đựng hy sinh. Khó khăn, gian khổ là vậy, song câu thơ vẫn gợi lên sự ấm áp từ những chuyện hai người đồng cam cộng khổ, gắn bó giữa vợ chồng cùng với sự thấu hiểu của hai người nghệ sĩ đã xua tan bao gian truân giữa chiến trường. Hạnh phúc đến đây đã được định nghĩa cụ thể, đó là khi “em viết” mà cảm xúc ùa về, trong mưa lũ, đớn đau. Được viết, được sáng tạo chính là khát khao muôn đời của người nghệ sĩ. Không được viết hay không viết được đồng nghĩa với sự thất bại của nhà văn. Cảm xúc trong em là cảm xúc của cá nhân người nghệ sĩ, nhưng dường như nó bắt nhập với ngàn vạn trái tim “như ngọc sáng ngời” (Tố Hữu).

Tiếp tục dòng hổi tưởng, nhà thơ trở về quãng thời gian ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân. Tham gia cuộc chiến đầy ác liệt, em lên đường phơi phới bước chân cùng nụ cười tươi tắn. Quá khứ tưởng như vẫn còn mới mẻ khi tác giả nhắc lại những kỷ niệm ở thôn Sáu Bình Dương. Những câu thơ tươi xanh như chính sự sống vẫn nảy mầm, vẫn sinh sôi sau cuộc càn quét của giặc. Nhưng cuộc sống vẫn diễn ra như chưa có mất mát nào xảy ra: em bé vẫn đi học, chiến hào lại mở thêm, vồng khoai ruộng lúa vẫn tràn sắc xanh tươi tốt, chỉ khác là thêm dày những chiến công qua lời kể của mẹ già. Em đến và chứng kiến bao chuyện ấy, để rồi trong khoảnh khắc:

Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc
Và em gọi đó là hạnh phúc…


Hai hình ảnh: góc vườn cháy khét lửa Na-pan và nhành hoa cúc điệp thêm vào hai hệ thống hình ảnh đối lập nhau ở những câu thơ trên, tạo thành một chỉnh thể liên kết chặt chẽ trong cấu tứ câu thơ. Trong không gian của cái chết, vẫn phát hiện được sự sống đang tồn tại; trong chốn tưởng như tan hoang nhất, đen tối nhất, em vẫn thấy cái đẹp hiện hình ngạo nghễ, kiêu sang. Đó chính là một “nốt nhấn” để một lần nữa em hiểu thêm về hạnh phúc. Để rồi tự nguyện góp sức mình cho Tổ quốc, nhân dân, cả anh và em đã hào hứng nhập cuộc với tinh thần của toàn dân tộc: Như trời biếc gặp mưa xuân/ Như chim én say trời/ Em mải mê đi, đi giữa bao người… Không còn chân dung cụ thể về em như đoạn đầu, em đã là một giữa bao người cùng góp công, góp sức cho đất nước. Hành trình nhân vật trữ tình đi cũng chính là hành trình tìm về với nguồn cội thiêng liêng, để gắn bó sâu sắc hơn với nhân dân. Câu thơ mộc mạc đã vượt thoát khỏi nghĩa cụ thể, mang tính tượng trưng cao. Đến đây, hạnh phúc đã được định nghĩa ở ba mức khác nhau theo cấp độ tăng tiến. Từ hạnh phúc của một người nghệ sĩ khi tìm được cảm xúc sáng tạo trong chiến trường đến hạnh phúc khi em hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân và phát hiện ra sức sống mãnh liệt của con người trong chiến tranh đạn lửa, đến hạnh phúc khi được hy sinh vì ngày mai, tương lai của dân tộc là một quá trình thể hiện sự giao hòa bền chặt tự nguyện và thiêng liêng của cá nhân với cả cộng đồng, với cả công cuộc vĩ đại của đất nước. Em hạnh phúc khi được hy sinh cho tươi sáng buổi mai, vì vậy, khi em ra đi, chẳng để lại gì /Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi. Nụ cười của em chan chứa bao niềm vui, lấp lánh bao hạnh phúc. Đó là biểu tượng sáng ngời của hạnh phúc thiêng liêng:


Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.


Giản dị, mộc mạc, chân thành, xúc động, những vần thơ của Dương Hương Ly đã cho người đọc cảm nhận đầy xúc động về hai chữ “hạnh phúc” thiêng liêng. Những câu thơ tự do với độ dài ngắn khác nhau, hình ảnh thơ vừa chân thực vừa mang tính biểu tượng cao đã cuốn độc giả vào trường cảm xúc của nhân vật trữ tình anh trước sự hy sinh của em, từ đó cho thấy rõ sự biến đổi trong quá trình hòa nhập giữa cá nhân với dân tộc, đất nước. Tác phẩm đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp của con người ViệtNam trong chiến đấu, hiểu được không khí của một thời. Bài thơ là nỗi niềm riêng của thi sĩ song đã gợi được những vấn đề chung, tình cảnh chung, cảm xúc chung của biết bao thế hệ...


MiLi

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

LÍNH MÀ EM!




Cuộc sống hôm nay vẫn cứ trôi qua bình lặng nhưng chỉ cần khẽ chạm vào quá khứ thì nỗi xúc động lặng lẽ tràn vào trái tim già nua của tôi .

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng âm hưởng hào hùng của những năm tháng khốc liệt đó cùng với những kỷ niệm của tình bạn, tình yêu vẫn đọng lại trong ký ức của người lính & người ở lại hậu phương .Ngày ấy chúng tôi còn rất trẻ, chớm nở tình yêu vụng dại đầu đời. Có ai đó đã nói chờ đợi là hạnh phúc, quả đúng như vậy.Chúng tôi - nữ sinh sư pham ngày ấy- những người đã “trót” nặng lòngvới lính, chờ đợi từng lá thư của lính .Có lúc thư chỉ vẻn vẹn vài chữ viết vội trên đường hành quân cũng làm chúng tôi xao xuyến…

Cũng chính trong những ngày mong đợi ấy, bài thơ “ Lính mà em”ra đời & chúng tôi cứ chuyền tay nhau chép mà chẳng hề biết ai là tác giả

Thân tặng các bạn- Người lính k22 những vần thơ mộc mạc của cái ngày xưa ấy!





LÍNH MÀ EM!




Em trách anh gửi thư sao chậm trễ
Em đợi hoài sẽ giận cho xem
Thư anh viết có bao giờ muốn thế
Hành quân dài đấy chứ,


Lính mà em!



Anh gửi cho em mấy cành hoa dại
Để làm quà không về được em ơi
Không đi lễ Noen cùng em nữa
Thôi đừng buồn nữa nhé,


Lính mà em!



Ngày về phép Anh cùng em dạo phố
Tay chiến binh đan năm ngón tay mềm
Em xót xa đời anh nhiều gian khổ
Anh mỉm cười rồi nói,


Lính mà em!



Qua xóm nhỏ anh ghi dòng lưu niệm
Trời mưa to hai đứa nép bên thềm
Anh che em khỏi ướt tà áo tím
Anh quen rồi không lạnh,


Lính mà em!



Anh kể em nghe chuyện trong này
Trăng đầu mùa không đủ viết thư đâu
Thư anh viết chữ mờ nét vụng
Hãy hiểu giùm anh nhé,


Lính mà em!



Ghét anh ghê chỉ được tài biện hộ
Làm cho người ta thêm nhớ thương
Em xa lánh những ngày vui trên phố
Để nhớ người hay nói,


Lính mà em!




Số phận của bài thơ rất li kỳ, cho đến nay vẫn chưa rõ ai là tác giả . Dù thế, yếu tố lãng mạn trữ tình được thể hiện qua những dòng cảm xúc chân thành của một người lính trong cuộc chiến vẫn được nhiều người yêu thích.Với tôi bài thơ này mang nhiều ý nghĩa của một thời đã sống , đã đợi chờ...

CHÚC MỪNG SINH NHẬT

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

GẶP BẠN CŨ

Hội K22 ở TPHCM vừa tổ chức gặp mặt bạn Tuyết Dung lớp 10G . Dung định cư ở Úc đã gần 30năm. Gửi tới các bạn vài hình ảnh cuộc gặp mặt nhé.





1- Bạn cùng khóa







2- Các bạn gái cùng khóa






3- Bốn bông hoa của lớp 10G

Kỷ niệm thời chiến tranh chống mỹ cứu nước:


Kỷ niệm ở Thanh Sơn - Phú Thọ








Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt,
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát,
Bến phà rào rạt, sóng nước Bình Ca,
Ai xuôi Phú Thọ, ai qua Trung Hà...?



Tiểu đội của tôi


Nhập ngũ 06 tháng 01 năm 1972 cùng với Vũ Trung(K8 Trỗi), Y Hòa(K 7 Trỗi), Chấn Hưng(K22 Trãi), Phương Bình(K7 Trỗi), Thanh Sơn(K22 Trãi), Lương Hòa(K22 Trãi), Nho( K22 Trãi),Ngô Tất Thắng(K7 Trỗi),...biên chế vào C42D54E59 huấn luyện tăng cường cho mặt trận Quảng Trị của Bộ tư lệnh Thủ Đô, sau đó tôi được trên điều động sang đơn vị mới đó là Z1E205 Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đóng quân trên địa bàn của một xã miền núi huyện Thanh Sơn ,Phú Thọ. Tiểu đội của tôi là tiểu đội "Con cưng" của tiểu đoàn bộ Z1 gồm Thái Hòa "Khọm"(K 6+7 Trỗi), Lê Vân(K 7 Trỗi), Hồng Hà(K 7 Trỗi), Hà"Mít"(K 7 Trỗi), "Tề"Phúc(K 7 Trỗi), Thống Nhất(K 7 Trỗi) và 5 chàng thanh niên của Đông Anh, Gia Lâm Hà Nội cùng Trần Hải, cháu của Trung tá Trần Bạo - Trung đoàn trưởng E205 nữa; trong đó tôi là Binh nhất, còn các chàng kia là Binh nhì. Tiểu đội trưởng của chúng tôi là Hạ sỹ "Mốc" Nguyễn Văn Thuộc, người Nghi Tàm, Quảng Bá, Hà Nội. Sở dĩ vì sao chàng được gọi là "Mốc" thì tôi không rõ, nhưng hình như cũng gần chục năm "Chống gậy tìm sao" rồi. Hồi đó chúng tôi là những chàng lính vừa rời ghế nhà trường, trẻ măng, mặt còn lông tơ, tuổi vừa chớm 18, còn chàng tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Thuộc mới 28, nhưng trông đã già dặn so với lũ chúng tôi lắm rồi, dáng nhỏ thó, vui tính, nhanh nhẹn và chưa vợ. Chúng tôi huấn luyện tân binh thời gian đầu ở nhà dân trong bản gần tiểu đoàn bộ. Thời gian này vất vả nhưng thắm đậm tình bạn bè, đồng chí. Ngoài những thời gian ban ngày lao động xây dựng lán trại, học chính trị và tập kỹ chiến thuật Thông tin liên lạc, buổi tối chúng tôi quây quần bên bếp lửa nhà sàn uống chè"Bồm" hoặc cà phê "Bít tất" tán dóc về những món ăn ngon của Hà Thành hay những kỷ niệm tuổi học trò ở trường Trỗi hay trường Nguyễn Trãi, Hà Nội.Tôi và Hồng Hà còn tranh cãi nảy lửa về "Thế nào là giờ GMT?", mãi nhiều năm sau này khi gặp lại ở quán giải khát đầu ngã tư Điện Biên Phủ cắt Hoàng Diệu, Hồng Hà mới công nhận tôi đúng, sau khi "Bật mí" là có tham khảo ý kiến "Ông già"(Thiếu tướng Lê Liêm, thứ trưởng Bộ Văn Hóa). Lê Vân( Con Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc-Thiếu tướng Lê Cư), tiểu đội phó, dáng đậm chắc, chín chắn, cương trực. "Tề" Phúc chàng trai hay hát(Con Thiếu tướng Phục-Cục trưởng Cục Chính sách quân đội), tôi biết hát một vài bản tình ca và dân ca Ý hay Nga là học"Mót" của chàng này. Thống Nhất cao gầy, đẹp trai và đỏm dáng nhất tiểu đội(Con Đại tá Nguyễn Thông-Chánh Văn phòng TCCT quân đội), tuy cũng là quân phục nhưng chàng này mặc vào và tay lúc lắc đồng hồ Rolex là ăn đứt siêu người mẫu Bình Minh, làm không biết bao bóng hồng trong đơn vị bị "Say nắng". Thống Nhất nổi tiếng đơn vị về tài thiện xạ, chẳng là chàng được bố cho mượn khẩu súng thể thao và một cơ số đạn"Khủng" nên Chủ nhật nào tiểu đội tôi cũng được một bữa tươi với chim cu xanh hay gà rừng. Hà"Mít"(Con tướng Kinh Chi-Cục trưởng Cục Bảo vệ quân đội), thấp bé nhẹ cân nhất tiểu đội, xứng với danh"Mít" từ hồi ở trường Trỗi.
Tiểu đội chúng tôi đang "Yên ả" và trực thuộc tiểu đoàn bộ Z1-KV12 thì có lệnh di chuyển từ trong bản ra ở tại tiểu đoàn bộ và hàng ngày đi rừng lấy gỗ,tre,nứa và lá tranh về xây dựng lán trại chuẩn bị đón tiếp hơn một trăm cô lính mới của thành phố Thái Nguyên và vùng phụ cận để thành lập đại đội mới. Đại đội tân binh biên chế gồm 3 trung đội nữ và một tiểu đội nam của chúng tôi. Thời gian này phải nói là cũng khá vất vả, tôi và Hà "Mít" thuộc dạng loẻo khoẻo và thấp bé nên nhiều hôm anh em về lán nghỉ từ lâu rồi mà chúng tôi vẫn lết bết trong rừng với đống nứa ngộ vừa to lại vừa dài, vì hồi đó đã có"Khoán sản phẩm" của Bí thư Kim Ngọc-Tỉnh Vĩnh Phú rồi! Đến khi các nàng tân binh má đỏ hây hây, tóc thề ngang vai, trong những bộ quân phục mới còn hồ sột soạt đến đơn vị, sự "Tràn ngập lãnh thổ" của các nàng làm không khí ở tiểu đoàn bộ và các đại đội trực thuộc sôi động hẳn lên. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội, trung đội thì lo sốt vó, chỉ lo có "Sơ sẩy" gì thì chết, còn anh em thì phấn khởi ra mặt, vì phần lớn anh em lâu nay đi bộ đội đã chín mười năm, toàn thượng sỹ"Mốc", trung sỹ "Mốc" cả và chưa có điều kiện về phép để lập gia đình. Còn chúng tôi, 12 chàng tân binh , trong đó có 6 chàng trai Hà Nội là lính Trỗi cũ chưa bao giờ cầm cổ tay con gái và chưa biết yêu là gì thì cứ nhởn nhơ, "Con nai vang ngơ ngác". Nhưng "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén", vào một đêm trăng sáng, tôi đang gác trong vọng gác trên đồi , trăng thanh, gió mát, ngồi ôm súng "Mơ màng nghe chim hót ở trên cao" choàng dậy chẳng thấy súng ống đâu, tá hỏa chạy đi tìm thì tiếng kẻng báo động vang lên,... thì ra chính trị viên tiểu đoàn"Lo" không ngủ được, đi một vòng kiểm tra, qua đại đội tân binh thấy nhà của 3 trung đội nữ và tiểu đội nam của chúng tôi "Im phăng phắc", tịnh không có một tiếng ngáy, nghi quá, ông ngó vào thấy giầy dép vẫn nghiêm văn chỉnh, nhưng hình như một số giường chỉ có màn không, đi qua chỗ tôi gác ông thu súng rồi giấu gần đấy để cảnh cáo,...Nghe kẻng báo động, thế là anh em, chị em từ bìa rừng cạnh đơn vị tán loạn chạy về tập hợp nghe chính trị viên tiểu đoàn huấn thị và khiển trách, tôi may mắn mò tìm lại được súng, thật là kinh nghiệm nhớ đời, hú vía. Chỉ có chàng binh nhì Trần Hải là cùng với nàng binh nhì Thu Hà "Đậu phộng rừng" đến tận chiều hôm sau mới tìm thấy"Tiểu đoàn bộ"!. Tiểu đội tôi còn nhiều chuyện cười ra nước mắt của những chàng "Công tử" Hà Nội, nhất là những buổi đi cầy, đi cấy và làm cỏ lúa tăng gia hay giúp dân gặt lúa của đơn vị, đúng là: " Ai bảo chăn trâu là khổ, tôi đi cầy còn khổ hơn trâu!"...
Đại đội tân binh được thành lập với nhiệm vụ đào tạo điện tín viên và nhân viên trực tổng đài phục vụ các chiến trường A,B,C đang diễn ra ác liệt và đặc biệt hiệu quả trong việc góp phần vào chiến thắng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, trận "Điện Biên Phủ" trên không 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở Hà nội chống trả "Pháo đài bay" B52, "Hung thần" F111 cánh cụp cánh xòe của không lực Hoa Kỳ và Tổng tiến công giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975. Sau đó, tiểu đội của tôi được tung đi khắp nơi, mỗi đứa một phương, Bắc, Trung, Nam đều có cả, đứa thì chuyên viên cao cấp dân sự, đứa thì đại tá, đứa thì mang quân hàm cấp tướng QĐNDVN, tôi thì "Bèo dạt ...mây trôi" ở nơi "Đất khách quê người"...nhưng chắc rằng chúng tôi không ai quên những kỷ niệm trong quân ngũ của QĐNDVN và mãi mãi mang bản chất của "Anh bộ đội Cụ Hồ" và "Chất lính Thủ Đô" của "Trai Hà Thành+ Đất Thánh" trong mình.


Thái Hòa(10 G).

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Kỷ niệm 67 năm ngày thành lập QĐNDVN(22-12-1944 - 22-12-2011)

Một vài mốc lịch sử của quân đội nhân dân Việt Nam



Sau 67 năm chiến đấu và xây dựng, chiến thắng và trưởng thành dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã phấn đấu liên tục, không ngừng giữ vững, nêu cao và phát huy mạnh mẽ truyền thống anh hùng cách mạng, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam và truyền thống vẻ vang của quân đội, xứng đáng với danh hiệu "Bộ đội Cụ Hồ".


Chiến công nối tiếp chiến công - tạo nên trang sử oanh liệt của "Bộ đội Cụ Hồ"






THÀNH LẬP ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN (22/12/1944):



Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại một khu rừng giữa 2 tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Đội gồm 34 chiến sĩ, trang bị 34 khẩu súng, chia thành 03 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên.Ngày 22/12 được xác định là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày Hội Quốc phòng toàn dân.


Mãi mãi thực hiện lời thề



trung với Ðảng, hiếu với dân







Sáu mươi bảy năm qua lời thề giữ nước vẫn âm trong lòng bao thế hệ. Truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam là một trong những truyền thống giữ nước chung của dân tộc. Bản chất "Bộ đội cụ Hồ" của Quân đội nhân dân việt Nam cũng là những tinh hoa, khí phách của con người Việt Nam.








CHIẾN THẮNG PHAY KHẮC VÀ NÀ NGẦN (25 VÀ 26/12/1944):





Ngày 25/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cải trang dùng mưu tập kích diệt đồn Phai Khắc thuộc tổng Kim Mã, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Tiếp đó, ngày 26/12, Đội đánh Đồn Nà Ngần (cách Phai Khắc 15 km về phía Đông Bắc).





MỘT SỐ CHIẾN THẮNG ĐẦU TIÊN CỦA NAM BỘ KHÁNG CHIẾN:







Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp có quân Anh tiếp sức đã trắng trợn gây hấn ở Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Ngay trong những ngày đầu, quân và dân Sài Gòn đã lập được nhiều chiến công xuất sắc, đã tiêu hao sinh lực địch, phá huỷ một phần cơ sở của chúng. Nổi bật là các trận đánh ở Thị Nghè, cầu Bến Phân, đánh phá Khám lớn Sài Gòn, đốt cháy tàu Pháp vừa cập bến Sài Gòn.





MỘT SỐ CHIẾN CÔNG MỞ ĐẦU CUỘC KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC (19/12/1946):





Đêm 19 rạng 20/12/1946, tiếng súng kháng chiến bắt đầu nổ ra ở Hà Nội, mở đầu thời kỳ cả nước kháng chiến chống Pháp xâm lược. Với tinh thần "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", các chiến sĩ vệ quốc quân, công an xung phong, tự vệ chiến đấu đánh địch rất dũng cảm. Nhiều trận đánh quyết liệt đã diễn ra ở Bắc Bộ Phủ, Nhà ga, cầu Long Biên, chợ Đồng Xuân.





Cùng với Hà Nội, quân và dân ta ở nhiều thành phố khác cũng tiến công và vây hãm địch.





CHIẾN THẮNG VIỆT BẮC (17/10 ĐẾN 22/12/1947):




Ngày 17/10/1947, giặc Pháp huy động 2 vạn quân tinh nhuệ có máy bay, tàu chiến hỗ trợ cuộc tiến công lớn lên Bắc Việt, hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến của ta, kết thúc "chớp nhoáng" cuộc chiến tranh xâm lược. Quân và dân Việt Bắc đã liên tiếp đánh chặn và phản công tiêu diệt địch ở khắp nơi, nổi bật là các trận Bình Ca (Tuyên Quang), Bông Lau (Cao Bằng), Đoan Hùng, Khu Lau trên sông Lô.





CHIẾN THẮNG BIÊN GIỚI (16/9 ĐẾN 14/10/1950):





Ngày 07/7/1950, Bộ Tổng Tư lệnh về chiến dịch Biên giới Cao-Lạng (chiến dịch Lê Hồng Phong II).Mục đích là tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đường thông với các nước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc.


Ngày 16/9/1950, quân ta đánh trận mở đầu, diệt cụm cứ điểm Đông Khê. Trước nguy cơ bị tiêu diệt, ngày 03/ 10/1950 địch vội cho quân ở Cao Bằng rút chạy, đồng thời huy động quân ở Thất Khê lên ứng cứu. Bộ đội ta liên tiếp đánh chặn trong 2 ngày 7 và 08/10/1950 lần lượt tiêu diệt 2 binh đoàn Lơ-pa-giơ và Sáctông ở núi Cốc Xá và điểm cao 477. Thừa thắng, quân ta chuyển sang tiến công giải phóng một dải biên giới dài 100km từ Đồng Đăng (Lạng Sơn) đến Đình Lập, An Châu, Tiên Yên (Quảng Yên).


CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ (13/3 ĐẾN 07/5/1954):




Ngày 13/3/1954, quân ta nổ súng mở đợt tiến công lần thứ nhất vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, lần lượt tiêu diệt các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bức quân địch ở Bản Kéo đầu hàng, mở thông cửa vào trung tâm tập đoàn cứ điểm. Ngày 30/3/1954, ta mở đợt tiến công lần thứ 2 diệt các cứ điểm phía Đông, cuộc chiến đấu giành đi giật lại giữa ta và địch rất quyết liệt. Vòng vây của quân ta khép chặt dần, hãm quân địch vào tình thế rất khốn đốn. Ngày 01/5/1954, đợt tiến công thứ 3 bắt đầu; quân ta lần lượt đánh chiếm các cứ điểm phía đông và phía tây, bẻ gãy các cuộc phản kích của địch. Ngày 07/5/1954, bộ đội ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ.


PHONG TRÀO "ĐỒNG KHỞI" Ở MIỀN NAM (CUỐI 1959 ĐẦU 1960):


Cuối năm 1959, nhân dân nhiều xã ở huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) cùng với trung đội vũ trang tập trung đầu tiên của tỉnh đã nổi dậy khởi nghĩa diệt ác, trừ gian, giành chính quyền ở một số thôn xã, mở ra một giai đoạn đấu tranh mới và những ngày sau đó, nhân dân các huyện Mõ Cày, Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, dưới sự lãnh đạo của đảng bộ địa phương đã nhất loạt nổi dậy, phá vỡ hoặc làm tê liệt chính quyền ấp, xã của địch, thành lập Ủy ban nhân dân tự quản.


Sau đó, phong trào"Đồng Khởi" đã nhanh chóng lan rộng ra nhiều tỉnh ở Nam bộ, Tây Nguyên và miền tây các tỉnh khu 5, tạo thành một vùng căn cứ rộng lớn. Nhiều đơn vị dân quân du kính và bộ đội địa phương tỉnh, huyện đã hình thành và phát triển trong phong trào "Đồng Khởi".


CHIẾN THẮNG ẤP BẮC (02/01/1963):


Được tin có một lực lượng vũ trang cách mạng mới về Ấp Bắc, xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho, ngày 02/01/1963, Mỹ - Ngụy liền mở một cuộc càn lớn mang tên "Đức Thắng 1-63". Dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân sau một ngày chiến đấu ta đã chiến thắng.


ĐÁNH BẠI CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ I CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (07/02/1965 ĐẾN 16/11/1968) Ở MIỀN BẮC VIỆT NAM:


Ngày 07/02/1965, đế quốc Mỹ dùng không quân mở chiến dịch "mũi lao lửa" và từ ngày 02/3/1965 gọi là chiến dịch "Sấm rìu" đánh phá liên tục miền Bắc, mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân đối với miền Bắc.


Quân và dân miền Bắc đã anh dũng đánh trả địch, giành thắng lợi ngay từ trận đầu, tiếp đó lần lượt đập tan những bước leo thang của chúng, lập nên những chiến công oanh liệt, tiêu biểu là các trận:


- Ngày 04/4/1965 lần đầu tiên máy bay ta bắn rơi máy bay địch.


- Ngày 24/7/1965 lần đầu tiên bộ đội tên lửa ta bắn rơi nhiều máy bay địch.


Trước sự thất bại nặng nề ở miền Bắc và cả miền Nam, ngày 01/1/1968, Jiôn-xơn phải tuyên bố chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc, sau đó chấp nhận họp Hội nghị bốn bên tại Pa-ri.


CHIẾN THẮNG BÌNH GIÃ (12/1964 ĐẾN 1965):




Một đơn vị Quân giải phóng tham gia chiến đấu tại Bình Giã (Bà Rịa-Vũng Tàu), tháng 12-1964.


Chiến thắng Bình Giã có ý nghĩa đánh dấu bước trưởng thành của bộ đội chủ lực ta và báo hiệu thất bại của các biện pháp chiến thuật "Trực thăng vận" và "Thiết xa vận" của Mỹ - Ngụy trong "Chiến tranh đặc biệt".


CHIẾN THẮNG VẠN TƯỜNG (18/8/1965):


Sáng 18/8/1965, Mỹ Ngụy mở cuộc hành quân "Ánh sao sáng" nhằm vào thôn Vạn Tường (Quảng Ngãi) với ý đồ diệt một đơn vị chủ lực ta, gây uy thế cho lính thuỷ đánh bộ Mỹ. Cuộc hành quân "Tìm diệt" quy mô lớn của quân viễn chinh Mỹ bị đánh bại.


CHIẾN DỊCH PLÂY-ME (19/10 ĐẾN 26/11/1965):


Từ 19/10 đến 16/11/1965, bộ đội ta tấn công cứ điểm Plây-Me, buộc quân địch ra ứng cứu. Ta đánh quân tiếp viện địch ở thung lũng I-a-đơ-răng, buộc quân Mỹ phải vào ứng cứu. Quân ta tập kích đánh phủ đầu diệt quân Mỹ. Sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ cơ động bằng máy bay lên thẳng lần đầu tiên xuất hiện ở miền Nam đã bị đánh bại.


CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN (30/1 ĐẾN 31/3/1968):


Ngày 30 và 31/1/1968, quân và dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt ở 64 thành phố, thị xã, đánh vào sào huyệt cơ quan đầu não của địch, tấn công hàng loạt căn cứ quân sự, sân bay, bến cảng, kho tàng và hệ thống giao thông của chúng. Ở Sài Gòn - Gia Định, ta tiến công nhiều mục tiêu quan trọng: tòa đại sứ Mỹ, Dinh Tổng thống Ngụy, Bộ Tổng Tham mưu Ngụy, Tổng nha cảnh sát, Đài phát thanh… Ở Huế, ta đánh chiếm 39 mục tiêu quan trọng, làm chủ hầu hết thành phố và chốt giữ 25 ngày đêm, thành lập chính quyền cách mạng.


Phối hợp với mũi tiến công quân sự, nhân dân nhiều vùng nông thôn và đô thị đã nổi dậy diệt ác trừ gian, giải tán dân vệ, phá vỡ hàng rào "Ấp chiến lược", giành quyền làm chủ. Đây là đòn quyết định làm phá sản chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của đế quốc Mỹ, làm lung lay ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải "xuống thang chiến tranh", tạo ra bước ngoặc mở đầu thời kỳ đi xuống về chiến lược của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.


CHIẾN THẮNG BẦU BÀNG - DẦU TIẾNG (THÁNG 11/1965):


Chiến thắng Bầu Bàng - Dầu Tiếng củng cố niềm tin đánh thắng Mỹ, mở ra phong trào "Tìm Mỹ mà diệt, nắm thắt lưng Mỹ mà đánh" trong các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam.


CHIẾN DỊCH ĐƯỜNG 9 NAM LÀO (30/1 ĐẾN 23/3/1971):


Dự tính năm 1971 Mỹ Ngụy sẽ mở 3 cuộc hành quân lớn mang tên "Lam Sơn 719" đánh lên khu vực Đường 9 - Nam Lào.


Ngay từ đầu, địch đã bị ta chận đánh, ở đâu chúng cũng bị đánh. Lực lượng tại chổ của ta phối hợp chặt chẽ với các lực lượng Pa Thet Lào đã liên tiếp tấn công địch. Sau hơn 1 tháng chiến đấu trong đó có nhiều trận đánh ác liệt giữa chủ lực ta với chủ lực cơ động Ngụy ở Bắc Đường 9. Đầu tháng 3/ 1971, bộ đội ta chuyển sang tiến công trên toàn mặt trận, bao vây, truy kích tập đoàn quân địch ở Bản Đông, tiêu diệt nhiều quân địch.


17 CUỘC TIẾN CÔNG CHIẾN LƯỢC TRÊN CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM NĂM 1972:


Ngày 30/3/1972, bộ đội ta bắt đầu mở cuộc tiến công chiến lược trên chiến trường Trị Thiên, miền Đông Nam bộ, Tây Nguyên, Đồng bằng khu 5 và Nam bộ. Kết quả, ta giải phóng toàn tỉnh Quảng Trị, phần lớn tỉnh Kon-Tum, bắc Bình Định, một khu vực rộng lớn các tỉnh Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, một số vùng ở đồng bằng sông Cửu Long và khu 5, giải phóng và giành quyền làm chủ hơn 1 triệu dân.


QUÂN VÀ DÂN MIỀN BẮC ĐÁNH BẠI CUỘC CHIẾN TRANH PHÁ HOẠI LẦN THỨ 2 CỦA ĐẾ QUỐC MỸ (06/4/1972 ĐẾN 15/1/1973):


Ngày 06/4/1972, đế quốc Mỹ huy động lực lượng lớn không quân và hải quân mở cuộc chiến tranh đánh phá trở lại miền Bắc với quy mô lớn, ác liệt hơn lần trước. Ngày 09/5, chúng tiến hành phong tỏa các cảng và các vùng biển miền Bắc, đánh phá các cơ sở kinh tế và quốc phòng của ta. Trước tình hình đó, quân và dân miền Bắc đã nhanh chóng chuyển mọi hoạt động vào thời chiến với tinh thần chiến đấu dũng cảm và cách đánh mưu trí tài giỏi.


Cay cú trước những thất bại nặng nề, đêm 18/12/1972, đế quốc Mỹ liều lĩnh mở cuộc tập kích đường không chiến lược quy mô lớn nhất, mang tên "chiến dịch lai-nơ bếch-cơ li" vào miền Bắc. Chúng tập trung một số lượng lớn máy bay, chủ yếu là B52 đánh vào Hà Nội, Hải Phòng và một số khu vực khác trên miền Bắc.


Một lần nữa, quân dân miền Bắc anh dũng chiến đấu, trừng trị đích đáng không quân Mỹ, đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của địch ở Hà Nội, Hải Phòng.


ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975:


Ngày 04/3/1975 bộ đội ta mở chiến dịch Tây Nguyên.


Sau một số trận đánh tạo thế và nghi binh chiến dịch, ngày 10 và 11/3, quân ta tiến công bằng sức mạnh binh chủng hợp thành, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột.


Phát huy thắng lợi, ngày 21/3/1975 ta mở chiến dịch tiến công Huế-Đà Nẵng.


Từ ngày 21 đến 26/3, ta tiến công chia cắt Huế-Đà Nẵng. Sau bốn ngày chiến đấu, ta giải phóng Thừa Thiên - Huế, tiếp đó giải phóng tỉnh Quảng Ngãi (25/3). Từ 27 đến 29, ta phát triển tiến công giải phóng Đà Nẵng.


Phối hợp với chiến dịch Huế - Đà Nẵng, từ Tây Nguyên bộ đội ta tiến xuống hỗ trợ lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương giải phóng các tỉnh Bình Định (ngày 01/4) Phú Yên (ngày 01/4) và Khánh Hoà (ngày 03/4).


Trên cơ sở những thắng lợi có ý nghĩa quyết định, ngày 04/4/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh nhằm giải phóng hoàn toàn Sài Gòn và miền Nam Việt Nam.


Ngày 26/4, quân ta bắt đầu nổ súng tiến công mạnh và đồng loạt vào các mục tiêu, phá vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch.


11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cờ Tổ Quốc tung bay trước Tòa nhà chính của Dinh Độc lập. MiềnNam hoàn toàn được giải phóng.




Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân thành lập ngày 22-12-1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng)












Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954


















Chiến dịch Hồ Chí Minh (30-04-1975)





KÝ ỨC

Đó là những năm chiến tranh, bom đạn dội lên đầu Hà Nội vào thời khốc liệt. Buổi trưa HN náo loạn vì còi rúc báo động liên hồi. Máy bay chưa kịp ngưng, tốp sau đã đến. Loa phóng thanh lại ráo riết. “Đồng bào chú ý…” Nhưng chiều đến thì thư thái nhởn nhơ như thể chẳng có gì. Âu cũng là nét riêng đặc biệt của người HN chăng.Cái thành phố thời chiến cũng có nét khác lạ. Vườn hoa Chi Lăng, công viên Thống Nhất, vườn hoa Tây Hồ, Bách Thảo…ở đó có những cuộc chia li bất chợt.


Cũng chính trong những ngày bom đạn đó, một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Mỹ đã ra đời.




CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ


Đó là cuộc chia li chói ngời sắc đỏ
Tươi như cánh nhạn lai hồng
Trưa một ngày sắp ngả sang đông
Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ.
Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa
Chồng của cô sắp sửa đi xa
Cùng đi với nhiều đồng chí nữa
Chiếc áo đỏ rực như than lửa
Cháy không nguôi trước cảnh chia ly
Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia
Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy
Không che được nước mắt cô đã chảy
Những giọt long lanh nóng bỏng sáng ngời
Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi…
Và rạng đông đang hừng trên nét mặt
Một rạng đông với màu hồng ngọc
Cây si xanh gọi họ đến ngồi
Trong bóng rợp của mình, nói tới ngày mai


Ngày mai sẽ là ngày sum họp
Đã tỏa sáng những tâm hồn cao đẹp
Nắng vẫn còn ngời trên những mắt lá cây si
Và người chồng ấy đã ra đi
Cả vườn hoa ngập tràn nắng xế
Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ
Gió nói tôi nghe những tiếng thầm thì
“Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau…





Bài thơ được đăng báo và ngay lập tức có tiếng vang, đặc biệt trong lớp trẻ thời bấy giờ.
Một cảm xúc mang hơi thở Đất nước, cảm giác lãng mạn tạo nên vẻ lung linh, ngời sáng cho mỗi câu thơ.
Ngày ấy, mỗi chàng trai vào chiến trường, dường như ai cũng chép bài thơ vào cuốn sổ con và coi như quà tặng của nhà thơ cho riêng mình.Chính cái bình minh của Nguyễn Mỹ là nỗi khát khao cháy bỏng của những trái tim trai trẻ. Khi họ mang ba lô vào chiến trường bên tai như nghe thầm thì đâu đó
Gió nói tôi nghe những tiếng thầm thì / Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau…

Từ trong sâu xa tôi thầm nghĩ “cái màu đỏ ấy…”& con phố nhỏ Ngọc Hà, nơi đó đã từng ẩn giấu những giấc mơ, là chứng nhân một thời tuổi trẻ của tôi cùng với những người bạn mà tôi yêu mến!


Ngọc Hà st


Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

GIAO THÔNG XE MÁY TẠI VIỆT NAM


Chở người và hàng

Con ngó sau coi chừng CA


Ngồi xổm thoải mái


Sành điệu


Vắt vẻo

Vừa lái xe vừa ôm hàng


Tay chân cùng múa


Chở gạch và người


Khong bình luận



Nguồn : GD VN
bloggers10H st