Hiển thị các bài đăng có nhãn 27-7. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 27-7. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015

27-7 NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ,

K1972 Nguyễn Trãi Ba đình Hà nội luôn nhớ về Anh, những người lính một thời chinh chiến để có ngày Hòa bình hôm nay.



Bài ca tôi không quên, Blogger K1972 Nguyễn Trãi.

Các bạn không xem được, các bạn vào đường dẫn sau :
https://www.youtube.com/watch?v=N62aErFPd4s

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014

Bài ca Người Lính.


Blogger K1972 tặng các bạn K22 một thời chinh chiến. Nhân ngày 27/7.
Các bạn không xem được, vào đường dẫn sau :

Thứ Năm, 25 tháng 7, 2013

Lá thư cuối của liệt sĩ Y Hòa gởi về gia đình.


Ngày 27/7 đã qua. Nhưng nó vẫn còn đọng lại trong mỗi người chúng ta nỗi trăn trở không yên, khi mà vẫn chưa đưa được các bạn về với gia đình! Trong bài viết của Thanh Sơn có nhắc tới lá thư cuối cùng của YHòa viết cho ba, má trước khi đi vào chiến trường. Mặc dù lá thư này đã được đăng trong báo "Tuổi trẻ chủ nhật" đăng ngày 10/8/2003 từ lâu. Tập hai "Sinh ra trong khói lửa"cũng có. Nhân dịp này, tôi nghĩ đăng lại lá thư này sẽ không thừa? Dù sao cũng còn nhiều người chưa biết tới lá thư này? Qua nét chữ nghiêng nghiêng có phần bay bướm của bạn. Chúng ta hiểu thêm tâm tư, tình cảm của những người lính ngoài chiến trường. Riêng những người lính còn được may mắn như chúng tôi thì mỗi lần đọc lá thư này đều khóc!



Bàn thờ liệt sĩ Ngọ-Y Hòa- Chấn Hưng tại Quảng trị

Ngày 18 tháng 8 năm 1972
Ba má thương nhớ của con!
Hôm nay, từ Quảng Trị con viết thư cho ba má. Sau chặng đường hành quân vượt Trừơng Sơn nóng bỏng, con vừa nghỉ chân.
Ba má ạ! Đến nay, tụi con mỗi đứa một nơi không còn được sống chung với nhau nữa. Vẫn thuộc sư đoàn nhưng thằng Sơn (con chú Chiến) về đơn vị công binh, còn con với thằng Chấn Hưng ở lại tiểu đoàn cũ vưà biên chế thành tiểu đoàn 12 ly 7 pháo phòng không của sư. Buồn quá ba má ạ! Hôm chia tay, thằng Sơn khóc quá. Hiện chưa biết nó ở đâu, Nam hay Bắc?
Còn đơn vị con chỉ là đơn vị phục vụ chiến dịch. Buồn quá vì không đuợc ở bộ binh chiến đấu mặt giáp mặt với quân thù. Con bây giờ gầy hơn trước vì vừa qua hai tháng gian nan, ác liệt. Vào đây mới thấy ở ngoài Bắc tụi con rèn luyện chẳng ăn thua gì cả. Lúc ở nhà thì sướng như tiên, vào đây thì chẳng có gì ăn, chỉ có cơm với muối thôi. Nhưng vì mệt nên ăn vẫn rất khỏe. Nấu cơm thì chật vật mất mấy tiếng đồng hồ mới chín vì máy bay quần suốt. Ngủ hầm thì ẩm thấp, lầy lội và muỗi nhiều vô kể. Sáng dậy vừa chui ra khỏi màn là muỗi đốt như điên, toàn nhằm vào đầu. Hành quân liên tục suốt ngày suốt đêm. Vác súng đạn nặng nên hai vai sưng đỏ rần cả lên. Có một điều may mắn là con vẫn chưa bị sốt rét lần nào cả. Không biết sẽ thế nào nhưng giờ thì vẫn khỏe. Vì đã xác định trước sẽ khó khăn gian khổ nên con quyết vượt qua. Nhiệm vụ chiến đấu là trên hết mà.
Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Trị giờ là một nên dân chúng ra vào như đi chợ. Tuy vậy, ở vùng mới giải phóng còn khá phức tạp, chính quyền cách mạng ở đây phải rất vững. Có cửa hàng bách hóa của ta cung cấp nhiều mặt hàng và bán cả bằng hai thứ tiền. Hàng hóa Mỹ thì bãi bỏ triệt để. Dân chúng đã quen với B52, khắp nơi chi chít những vệt bom B52, nhiều khu rừng đã bị chúng thiêu huỷ bằng địa.
Ba má ơi! Hiện giờ chúng con vẫn nằm chờ chiến dịch. Ở Quảng Trị việc giành giữ đất rất gay go, nhất là vùng giáp ranh ngày nào cũng có chiến sự. Bọn con chỉ bắn máy bay thôi, nếu căng lắm mới hạ tầm để đánh bộ binh địch. Vì tiểu đoàn mới nhận súng và mới thành lập, chưa chiến đấu trận nào. Con và thằng Vũ Trung vẫn ở cùng một đại đội với thằng Hưng. Khi hành quân ở Trường Sơn, bọn con gặp nhiều đồng bào dân tộc Vân Kiều. Họ chỉ thích đổi gạo lấy gà chứ không thích đá lửa nên đá lửa con vẫn còn. Thuốc bổ Polyvitamine của má cho con vẫn giữ một gói. Má ạ, bây giờ mới thấy B1 là cần thiết vì không tài nào tìm được một cọng rau. Kiếm được ít lá khoai, lá sắn là mừng lắm. Bây giờ thịt hộp cũng chẳng còn, chỉ có mắm tôm, muối, ít ruốc nên người đứa nào cũng phờ phạc. Mì chính thì nhiều lắm, bọn con cứ pha từng thìa mì chính với nước lã làm canh chan ăn.
Ba má ạ! Bây giờ con mới thấy nhớ nhà, nhớ ba má và anh chị em. Ở giới hạn giữa cái sống và cái chết nhiều lúc ứa cả nước mắt vì nhớ nhà. Biết đâu và vĩnh viễn con chẳng còn được thấy ba má và anh chị em con nữa. Trong chiến đấu điều đó đã trở thành bình thường, cái chết chẳng đe dọa được ai nhưng nó vẫn cứ rình rập đâu đây. Lính tiểu đoàn 56 cùng huấn luyện với tụi con vừa bị B52 rải thảm làm chết ba đứa và bị thương cũng nhiều. Tiểu đoàn con cũng bị máy bay ném bom và bắn rôc- két, may mà không ai bị sao. Con vẫn giữ một cái ảnh của gia đình nhưng thiếu chị Thanh và thằng Trung, thằng Thắng. Nhưng cũng chẳng sao cả vì con vẫn nhớ và hình dung ra chúng nó.
Ba má ơi, không hiểu ở nhà bây giờ ra sao? Ba má có được mạnh khỏe không? Anh Nguyên và chị Thanh học ra sao rồi? Chị Thanh năm nay có khỏe không, có đỗ đại học không? Con Nhung, thằng Trung, thằng Thắng năm nay chắc học ở Chi Nê? Má bảo rằng con vẫn mạnh khỏe và vẫn nhớ chúng nó nhé! Con vẫn hành quân, chưa nghỉ và chắc chẳng bao giờ nghỉ đâu. Còn Thái Hòa không hiểu bây giờ nó ở đâu? Chắc là nó thơm hơn tụi con rồi. Nhưng thôi, sau này về chắc tụi con sẽ lại thơm hơn. Chính trị viên của con nói chỉ còn đánh độ một hay hai chiến dịch nữa thôi.
Cuối thư con chúc ba má và cả nhà mạnh khỏe, chúc cả nhà gặp nhiều may mắn.
Con của ba má.
Quân giải phóng Bắc Quảng Trị – Y Hòa. 
Hòm thư của con: 651091 JA01
TB: Con đã viết về nhà bốn, năm lá thư nhưng vẫn chưa nhận được thư nào.

Đây là lá thư cuối cùng của Y Hòa gửi về cho gia đình. Hai tháng sau, ngày 16 tháng 10, Y Hòa đã anh dũng hy sinh khi vừa tròn 18 tuổi.





Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Bức thư về ngày 27/7
xúc động cư dân mạng.

Cô gái 25 tuổi ở Hải Dương đã chia sẻ câu chuyện cảm động về người bố là thương binh của mình. Bức thư khiến nhiều người phải băn khoăn, day dứt, đặc biệt là thế hệ trẻ.

"Bởi chiến tranh đâu phải trò đùa"

Nhân ngày Thương binh - liệt sỹ 27/7, bạn Lê Thị Hương (25 tuổi, Chí Linh - Hải Dương) đã chia sẻ câu chuyện cảm động về người bố là thương binh hạng 2/4 của mình, bác Lê Anh Tuấn (nhập ngũ lần đầu năm 1974, lần 2 năm 1978, tham gia chiến đấu và bị thương ở chiến trường Campuchia).
Bài viết còn là những suy nghĩ rất thật, rất chân thực về chiến tranh của một người trẻ tuổi, người chưa hề biết thế nào là chiến tranh. Hiện bài viết đang lan truyền rất nhanh trên cộng đồng mạng và gây xúc động cho nhiều người.
Lê Thị Hương - tác giả của bài viết đã gây xúc động mạnh trên cộng đồng 
mạng trong những ngày qua. (Ảnh do tác giả cung cấp)

Bố em, 18 tuổi vào bộ đội. Năm đó là 1974, chiến tranh đã vào hồi cuối, bố là lớp tân binh nên còn huấn luyện chán chê để rồi tuyển lựa "đi B". May mắn thay, bố chưa đến đợt đi B thì chiến tranh kết thúc, 1977 bố giải ngũ trở về, cưới vợ.
Tháng 8/1978, chị cả em ra đời, sau đó chỉ một tháng, chú Tư - em trai ruột của bố em, có lệnh gọi nhập ngũ. Chú vừa nhát vừa hiền, lại vừa cưới vợ nên bố xin đi thay chú. Đất nước đang cần người đã có kinh nghiệm, đơn tình nguyện của bố được chấp thuận ngay. Mẹ em, chị và ông bà tiễn bố lên đường.
Vài tháng sau, bố đi K (chiến trường Campuchia). Chuyến tàu đưa bố đi từ ga Hải Phòng, đơn vị bố có hơn 40 người Hải Phòng, vào đến Quảng Trị còn 14 người. Họ nhảy tàu vì đi B thì sẵn sàng nhưng đi K thì khác.
Thời gian đầu còn có chút tin bố về nhà, càng về sau càng biền biệt. Mấy năm sau có giấy báo tử gửi về, bà nội khuỵu xuống trước thềm nhà. Suốt tháng trời bà mê man chỉ đòi chống gậy đi tìm con, bà bảo bố em không thể nào chết được.
Mẹ ôm chị gái em từ căn nhà riêng về ở với ông bà vì chị ốm quá, lên sởi mủ xanh mủ vàng đã có lần thiếp đi, chú mang ra góc giường đặt, mẹ khóc ngất, bỗng thấy cánh tay chị vời lên, mẹ lại ôm chị, chăm nuôi bú mớm. Những năm tháng ấy, bố vẫn biền biệt bên kia, không hay biết gì về tình cảnh bi đát của con thơ, mẹ già.
Rồi bố bị thương trong một lần đi họp giao ban buổi tối: đạp trúng mìn, bàn chân dập nát, đồng đội đưa về trạm quân y dã chiến giữa cánh đồng hoang. Sợ tiếp tế đến không kịp, bác sĩ y tá cưa chân cho bố, cưa sống, đồng đội hát quốc ca bao nhiêu vẫn không át nổi tiếng gào thét.
Rồi 2 ngày sau bố mới được chuyển về Sài Gòn bằng trực thăng, lần này nằm viện, cưa thêm một lần nữa vì vết cưa cũ bị nhiễm trùng. Điều dưỡng thêm vài năm nữa 1/3 chân phải của bố đã không còn, một mảnh đạn găm ở đùi và hai tai bị điếc nhẹ. Bố về nhà với giấy chứng thương 2/4, mất sức 65%. Nhưng còn về được đã là đại phúc cho cả nhà mình, bố kể hồi mới sang được 1 tháng, chính tay bố đã phải gói hài cốt của bạn mình để trực thăng mang về.
Ngày bố về, nét mặt dữ dằn hơn, những cơn đau mê sảng thỉnh thoảng vẫn trở lại, chị em nhất định không nhận bố vì sợ cái nạng và cái chân gỗ bố tháo ra lắp vào mỗi sáng tối. Ngay cả đến đời con trai của chị, cháu ngoại của bố, mỗi lần nhìn cái chân ấy nó đều khóc thét. Bố mất cả tháng trời chỉ để làm quen và ôm con gái mình vào lòng mà không làm nó sợ.
Đúng, em là con gái, em chỉ nhìn những thứ xung quanh mình, em nhìn thấy chiến tranh và hậu quả của nó trong suốt 18 năm sống bên bố, những lần sợ hãi đến run rẩy khi bố em mắt vằn tia máu lên nóng giận vì những điều không lớn lao gì, khi bố em những đêm rên rỉ trong vô thức vì mảnh đạn trong người, khi bố em có những lần đi xe máy hơi quẹt xe đã ngã vì không thể dùng chân giả mà chống như người ta được.
Bố em chưa một lần than vãn gì về chiến tranh, kêu ca gì về sự đãi ngộ của nước nhà cho những người thương bệnh binh như bố, bố vẫn bươn trải bán buôn ngược xuôi để nuôi con học hành.
Em nhớ mãi một lần lớp 11, em học kém bị bố đánh, đánh xong bố nói rất nhiều, nhưng có một câu em không thể nào quên được, bố bảo: "Chị em chúng mày đang đi học bằng tiền xương máu của tao đấy con ạ". Đúng, chúng em từ cấp 1 cho đến hết đại học đều được miễn học phí vì bố là thương binh.
Bao nhiêu năm em sống trên đời là bấy nhiêu năm em thấy mẹ chăm bẵm bố em từ miếng cơm, phích nước, ấm trà, là thấy mẹ chịu đựng đủ sự nóng nảy của bố do thay đổi tâm tính từ lúc trở về... Chiến tranh không đùa với ai cả, cũng không phải cứ hạ súng thì đã là kết thúc, thế nên, còn hòa bình được ngày nào, hãy cố mà gìn giữ.
LÊ THỊ HƯƠNG
Theo Infonet.vn

HH St

Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

"VIẾNG CHỒNG" - TIẾNG NGÂN CỦA TÌNH NGƯỜI NỒNG THẮM

VIẾNG CHỒNG




Chị ơi...

Chỉ gọi được thế thôi

Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời

Không làm sao anh còn nói nổi:

Chị đặt hoa nhầm rồi

Mộ anh ấy ở bên tay trái

Chỉ có một vòng hoa chị mang từ quê lại

Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi!



Chị hiểu ý em rồi

Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó,

Cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ

Viếng mộ anh có chị đến đây rồi!

TRẦN NINH HỒ



Bài thơ nhỏ, xinh; chỉ vỏn vẹn có 12 câu - nhưng lại mang một sự hàm chứa lớn, hứa hẹn sự bùng nổ về ý nghĩa ẩn sau ngôn từ. Đấy là sự bùng nổ của tính nhân đạo, nhân văn giữa người sống với người chết; giữa con người với con người...

Mở đầu bài thơ là một tiếng gọi, nghe thảng thốt làm sao - tiếng gọi của anh chiến sĩ đưa đường cho một người vợ Liệt sĩ đi thăm mộ chồng. Tiếng gọi để muốn chỉnh sửa lại một hành vi lầm lẫn đáng tiếc, rằng chị đã đặt nhầm vòng hoa mang từ quê đến viếng mộ chồng lên một ngôi mộ khác:

Chị ơi...

Chỉ gọi được thế thôi

Anh chiến sĩ đưa đường bỗng thấy nghẹn lời

Không làm sao anh còn nói nổi...

Quả là một tình huống không ai ngờ tới - một tình huống giữa cái thực và cái ảo, giữa trạng thái tình cảm con người với quan niệm tâm linh. Đặt vòng hoa lên một ngôi mộ, cũng như cắm nén nhang lên bát nhang; đã đặt rồi, đã cắm rồi; thì không ai lại nói rằng: tôi cắm nhang nhầm, tôi rút lên để mang cắm chỗ khác! Cũng như vậy, người vợ đã đặt vòng hoa lên ngôi mộ không phải là mộ chồng mình. Anh chiến sĩ nghẹn lời, không làm sao nói nổi là bởi sự việc đã diễn ra, vòng hoa viếng chồng của người vợ kia đã đặt lên ngôi mộ không phải là chồng chị. Bởi vậy, dù không muốn, anh vẫn cứ phải thốt lên: Chị đặt hoa nhầm rồi/ Mộ anh ấy ở bên tay trái. Và, để chị yên tâm đặt lại vòng hoa viếng chồng mình, anh đã nói với chị: Hoa viếng mộ bên này đã có chúng tôi!

Chiến tranh, hy sinh, mất mát, nghĩa đồng đội, tình chồng vợ... tất cả đan xen trong cuộc sống thời bình - cuộc sống buộc ta phải nhớ, không được quên; buộc chúng ta, những người còn sống, phải ghi ơn những người đã khuất. Người vợ liệt sĩ sau chiến tranh đi viếng mộ chồng, để nhớ anh; để tâm sự với anh. Chị đến với anh không phải chỉ để viếng anh, mà sâu thẳm trong đáy lòng chị, là để được" nói với anh'' bằng lời thủ thỉ, nhớ thương của người vợ nói với chồng. Vì vậy, chị đã không bị bất ngờ khi được anh chiến sĩ dẫn đường thông báo rằng chị đã đặt nhầm vòng hoa lên ngôi mộ không phải là của chồng mình. Chị đã trả lời anh chiến sĩ bằng một giọng nói và một thái độ chân thành, thấm đẫm tính người: Xin cho chị đặt hoa bên mộ đó; bởi rằng: cả cánh rừng chỉ có hai ngôi mộ. Và cao hơn: Viếng mộ anh có chị đến đây rồi! Như vậy, người vợ liệt sĩ đã một lúc thực hiện được hai công việc đầy ý nghĩa: Đặt vòng hoa viếng mộ liệt sĩ vô danh, và thăm viếng chồng mình. Bài thơ khép lại, nhưng tiếng ngân của nó thì cứ còn, và sẽ còn vang mãi trong tim bạn đọc...

Triều Lương


= = =

Liên kết bài đăng:

http://www.tapchihuongnghiep.com.vn/Main.aspx?MNU=874&Style=1&ChiTiet=3592

Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010



Nhân ngày 27/7, tôi xin trích đăng bài về một nhà thơ và một bài thơ của ông để lại trong chúng ta rất nhiều cảm xúc. Bài thơ ấy nói về những người lính, trong đó có những người bạn "lính" của chúng ta
banghs



Một chút về tác giả

Anh Lê Bá Dương hiện nay là nghệ sĩ nhiếp ảnh, hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam, là nhà báo, phóng viên thường trú của báo Văn hóa tại Nha Trang. Quê chính của anh ở Nghệ An, nhập ngũ năm 15 tuổi, và ngay trong trận đánh vào thôn Tây Trì (Đông Hà) khi 15 tuổi “cộng” 49 ngày, anh đã trở thành dũng sỹ.

Những năm tiếp theo từ 1968 đến 1973, qua nhiều trận đánh nổi tiếng trên chiến trường Quảng Trị, anh đã được tặng các danh hiệu dũng sỹ diệt cơ giới, dũng sỹ diệt máy bay... và người chiến sỹ với hơn chục vết thương trên người ấy cũng đã hai lần được đề nghị tuyên dương anh hùng nhưng rồi vết thương chồng vết thương, việc hoàn tất hồ sơ mấy lần dở dang không thành.

Hồi ấy, trên mặt trận B5 (đường 9, Quảng Trị) từng đã dấy lên phong trào “Xung kích như Lê Bá Dương, chốt chặt như Lê Bá Dương”. Báo Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Tiền phong đã có nhiều bài viết và in ảnh Lê Bá Dương mặt trẻ măng, kẹp AK giữa chiến trường khói lửa mà mắt cứ trong văn vắt, môi mím chặt mà cứ thấy phảng phất một nụ cười...

Bây giờ ở Quảng Trị, vào tháng 7, có một phong trào rất đẹp là toàn dân kết bè hoa thả xuống dòng Thạch Hãn, con sông đang chứa trong lòng nó hàng trăm linh hồn liệt sĩ đã lặng lẽ chìm trong những ngày đỏ lửa hào hùng năm xưa.

Nhưng trước khi nó thành phong trào như bây giờ, vào lúc đang còn khó khăn nhất của thời bao cấp, người cựu chiến binh Lê Bá Dương ấy đã dồn lương và nhuận bút mỗi năm làm một chuyến tàu chợ vào tháng 7, từ Nha Trang ra Quảng Trị, anh mua hết hoa ở chợ Quảng Trị rồi mang ra sông thả.

Ban đầu nhiều người ngạc nhiên, có người còn bảo: ông khùng. Hàng chục năm như thế, đến thời ông Vũ Trọng Kim làm bí thư thì ông mới phát động nó thành phong trào rầm rộ như ngày nay...

Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.


Lê Bá Dương

Bài thơ với nhiều dị bản

Chiều ngày 27 tháng 7 năm 1987, sau khi thả hoa cho đồng đội, Lê Bá Dương ngồi lặng trên bờ sông ngắm những chiếc thuyền nặng nề ngược dòng Thạch Hãn.

Thanh bình quá thể, vô tư quá thể, nhưng ai biết, ai nhớ, dưới đáy sông kia còn bao nhiêu đồng đội của anh đang nằm lặng lẽ. Bất chợt những câu thơ vụt ra:

Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Tan chợ chiều xuôi đò có vội
Xin, xin đừng khuấy đục dòng trong.

Sau này khi công bố lần đầu và duy nhất với tư cách tác giả trên Tạp chí Khoa học Công nghệ Khánh Hòa năm 1990 (các lần công bố sau, kể cả việc được phổ nhạc hát rất nhiều trong dịp kỷ niệm Ngày thương binh liệt sĩ 27/7 vừa qua là do các báo và nhạc sĩ tự sưu tầm), nhà văn Đỗ Kim Cuông khuyên anh sửa lại. Và bài thơ được hoàn chỉnh là:

Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.


Hai câu thơ viết từ năm 1972 của Lê Bá Dương mới tìm lại


Xung quanh bài thơ 4 câu này của Lê Bá Dương, hiện nay có khá nhiều dị bản, kể cả khi nó được khắc rất trang trọng trong nhà lưu niệm nghĩa trang liệt sĩ Quảng Trị lẫn khi được trích dẫn trên báo chí.

Trước hết là chữ “lên”, phần lớn đều ghi là “xuôi”. Xin thưa, nếu “xuôi” thì không phải chèo, mà chỉ “lái” thôi. Chèo đò và lái đò là hai động tác khác nhau. Tiếp đến là chữ “ơi”, nhiều người dùng là “xin”.

Bản thân Lê Bá Dương khi sửa từ “xin” thành “ơi” là thán từ gọi đò “ ơi đò “” bớ đò” “đò ơi “ theo đúng phương ngữ Quảng Trị, nghe thắt thẻo và có tiếng đồng vọng lênh lan trên sóng nước.

Thêm nữa, ở bản gốc thì câu thứ 4 đã có từ “xin” rồi. Nhưng theo chúng tôi, trong trường hợp này dùng “xin” hay “ơi” cũng đều khả dĩ. Câu dưới dị bản mới nặng, sự sai một chữ mới làm lệch ý nghĩa, ấy là “còn đó” thành “còn có”.

Chữ “còn đó” hay hơn, mênh mang hơn, phổ quát hơn, mở hơn. Lê Bá Dương không phải nhà thơ chuyên nghiệp nhưng anh đã dụng chữ rất hợp lý và chính xác.

Hai câu dưới thì có một dị bản là “bờ bãi” và “bờ mãi”, thì theo chúng tôi, dùng từ nào cũng được, dẫu “mãi mãi” hay hơn, vĩnh cửu hơn. “Bờ bãi” vừa cụ thể, vừa hẹp, chữ “bãi” như một từ láy phái sinh của “bờ”

Có lẽ do bài thơ là tiếng lòng chung cho mọi người, đặc biệt là bài thơ còn được gắn với việc một người lính hàng năm một đôi lần về thắp hương thả hoa cho đồng bào, đồng đội, vì vậy, từ khi xuất hiện trên báo bài thơ đã được mọi người chú ý.

Người này nhớ một vài câu, người khác nhớ cả bài 4 câu, nhưng thường thì mọi người nhớ và thuộc hai câu đầu trong cả bài 4 câu. Và ngay cả 2 câu đầu đó cũng vẫn có vài từ khác nhau như đã dẫn. Chúng tôi thống kê có các dị bản như sau:

Dị bản 1:

Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.


Dị bản 2 khác với DB1 ở từ ơi thay cho từ xin trong câu đầu. Dị bản 3 khác với dị bản 2 ở từ “Có” thay cho từ “Đó”. Cũng có bản từ “hai mươi” trong câu thứ 3 được đổi thành từ “đôi mươi”

Như thế, bản chính thức là bốn câu ở phía đầu bài...

Ngoài ra, Lê Bá Dương còn một bài thơ 2 câu được viết trong một tình huống khác. Hôm chuẩn bị vào sâu về phía nam mặt trận, cô bé trong nhà dân chợt hỏi: Chú ơi, tại sao lại gọi là quân giải phóng Bắc Quảng Trị? Vội quá, anh lấy bút viết vội vào trang sách học trò của cô bé hai câu thơ và cũng là hai vế đối:

Một khẩu súng giữ hai trời Nam Bắc
Một dấu chân in màu đất hai miền.


Mãi mới đây, nhân dịp kỷ niệm 35 năm giải phóng Quảng Trị, “cô bé” bây giờ đã là cựu du kích trao lại cho Lê Bá Dương tờ giấy kẻ ngang đã úa vàng nhưng vẫn nguyên nét chữ viết 2 câu thơ.

Hôm đi cùng đồng đội lên cao điểm 544, nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính đã đề nghị một nhà thư pháp viết hai câu thơ mà theo anh là tuyên ngôn hay nhất bằng thơ về quân giải phóng Bắc Quảng Trị của Lê Bá Dương.

Văn Công Hùng - báo Tiền Phong