Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình thơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Nhớ nhà thơ liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý

QĐND - “Bài thơ về hạnh phúc” của Dương Hương Ly là một trong những thi phẩm được sáng tác trong những năm kháng chiến chống Mỹ vô cùng ác liệt. Tác phẩm là tiếng lòng của nhà thơ với người vợ đã hy sinh của mình-nhà thơ liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý:

Thôi em nằm lại
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên…



Tác phẩm mở đầu bằng những dòng thơ giản dị, chân thành như lời nói của người chồng đối với linh hồn người vợ đã khuất. Giọng điệu thơ trầm lắng, nghẹn ngào trong một sự chia li đứt đoạn. Nỗi đau như lặn vào trong tâm khảm khi tác giả phải chấp nhận một sự thật xót lòng: Em không còn nữa. Nhân vật em được nhắc đến trong vần thơ đầu tiên là em của sự hy sinh. Cũng như bao người lính đã gửi mình trong lòng đất, em cũng nằm lại nơi mảnh đất chiến trường khi tuổi đời đương xuân. Sắc xanh nguyên của bầu trời chiến trường như bất tử hóa tuổi trẻ của em trong sự hy sinh. Chân thành đến nhói lòng, nỗi đau người vợ hy sinh được nhà thơ diễn tả sâu sắc, khi ẩn sâu khiến anh không thể nói bằng lời. Sự mất mát quá lớn lao ấy được so sánh như mất nửa cuộc đời. Nỗi đau tưởng sẽ làm người ta mềm yếu! Nhưng với nhà thơ chiến sĩ Dương Hương Ly, đớn đau càng hun nên sức mạnh chiến đấu. Người đọc không chỉ bắt gặp ở đây hình ảnh của một nhà thơ giàu cảm xúc mà còn thấy sáng lên hình ảnh một người chiến sĩ trong tư thế chủ động đối diện với quân thù. Nỗi đau của toàn dân tộc đã khiến anh và em ra trận, nỗi đau của riêng anh khi mất em đã hòa quyện vào nhau, khiến anh “tỉnh táo”, vững tay súng tiêu diệt kẻ thù.






Tác phẩm “Nhật ký chiến trường” của nhà văn-liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý, nhân vật trữ tình trong “bài thơ về Hạnh phúc” của Dương Hương Ly.Ảnh: Internet

“Bài thơ về hạnh phúc” được tác giả cấu trúc thành ba đoạn. Nếu như đoạn đầu tiên thể hiện nỗi đau của nhà thơ khi người vợ đã mất thì đoạn hai là đoạn hồi tưởng về em trong quá khứ anh hùng. Chính ở đoạn này, tư tưởng chính của bài thơ được đề cập đến. Hạnh phúc là gì? Bao lần ta lúng túng/ Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi vẫn chưa ra/ Cho đến ngày cất bước đi xa/ Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt. “Hạnh phúc là gì?”-câu hỏi đặt ra dễ dàng song để trả lời thực không hề đơn giản. Mục đích con người luôn hướng tới và cố gắng tạo dựng trong cuộc đời cũng chính vì hai chữ giản đơn đó thôi. Sự lúng túng của anh và em được giải quyết, khi hai người “cất bước” theo tiếng gọi của miền Nam. Hạnh phúc chỉ “ngộ” ra khi được cống hiến cho cộng đồng, cho dân tộc, khi cái Tôi biết hòa vào cái Ta chung.


Thời gian từ hiện tại đau thương đã bắt dẫn hồn người trở về với quá khứ, khi em vẫn còn sống. Hình ảnh của em hiện lên rõ nét ở mỗi giai đoạn của cuộc chiến tranh: Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt/ Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng/ Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng/ Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt/ Bao dốc cao em cần cù đã vượt… Quá khứ hiện về trong những tháng ngày anh và em ở rừng, vượt dốc. Hình ảnh của em được khắc họa chân thực, sinh động trong không gian của mùa mưa rừng, của sự thiếu thốn kham khổ: em xanh gầy, môi tái ngắt. Nổi bật nơi ngôn từ là hình ảnh một người phụ nữ kiên cường, giàu sức chịu đựng hy sinh. Khó khăn, gian khổ là vậy, song câu thơ vẫn gợi lên sự ấm áp từ những chuyện hai người đồng cam cộng khổ, gắn bó giữa vợ chồng cùng với sự thấu hiểu của hai người nghệ sĩ đã xua tan bao gian truân giữa chiến trường. Hạnh phúc đến đây đã được định nghĩa cụ thể, đó là khi “em viết” mà cảm xúc ùa về, trong mưa lũ, đớn đau. Được viết, được sáng tạo chính là khát khao muôn đời của người nghệ sĩ. Không được viết hay không viết được đồng nghĩa với sự thất bại của nhà văn. Cảm xúc trong em là cảm xúc của cá nhân người nghệ sĩ, nhưng dường như nó bắt nhập với ngàn vạn trái tim “như ngọc sáng ngời” (Tố Hữu).

Tiếp tục dòng hổi tưởng, nhà thơ trở về quãng thời gian ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân. Tham gia cuộc chiến đầy ác liệt, em lên đường phơi phới bước chân cùng nụ cười tươi tắn. Quá khứ tưởng như vẫn còn mới mẻ khi tác giả nhắc lại những kỷ niệm ở thôn Sáu Bình Dương. Những câu thơ tươi xanh như chính sự sống vẫn nảy mầm, vẫn sinh sôi sau cuộc càn quét của giặc. Nhưng cuộc sống vẫn diễn ra như chưa có mất mát nào xảy ra: em bé vẫn đi học, chiến hào lại mở thêm, vồng khoai ruộng lúa vẫn tràn sắc xanh tươi tốt, chỉ khác là thêm dày những chiến công qua lời kể của mẹ già. Em đến và chứng kiến bao chuyện ấy, để rồi trong khoảnh khắc:

Trong một góc vườn cháy khét lửa Na-pan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc
Và em gọi đó là hạnh phúc…


Hai hình ảnh: góc vườn cháy khét lửa Na-pan và nhành hoa cúc điệp thêm vào hai hệ thống hình ảnh đối lập nhau ở những câu thơ trên, tạo thành một chỉnh thể liên kết chặt chẽ trong cấu tứ câu thơ. Trong không gian của cái chết, vẫn phát hiện được sự sống đang tồn tại; trong chốn tưởng như tan hoang nhất, đen tối nhất, em vẫn thấy cái đẹp hiện hình ngạo nghễ, kiêu sang. Đó chính là một “nốt nhấn” để một lần nữa em hiểu thêm về hạnh phúc. Để rồi tự nguyện góp sức mình cho Tổ quốc, nhân dân, cả anh và em đã hào hứng nhập cuộc với tinh thần của toàn dân tộc: Như trời biếc gặp mưa xuân/ Như chim én say trời/ Em mải mê đi, đi giữa bao người… Không còn chân dung cụ thể về em như đoạn đầu, em đã là một giữa bao người cùng góp công, góp sức cho đất nước. Hành trình nhân vật trữ tình đi cũng chính là hành trình tìm về với nguồn cội thiêng liêng, để gắn bó sâu sắc hơn với nhân dân. Câu thơ mộc mạc đã vượt thoát khỏi nghĩa cụ thể, mang tính tượng trưng cao. Đến đây, hạnh phúc đã được định nghĩa ở ba mức khác nhau theo cấp độ tăng tiến. Từ hạnh phúc của một người nghệ sĩ khi tìm được cảm xúc sáng tạo trong chiến trường đến hạnh phúc khi em hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân và phát hiện ra sức sống mãnh liệt của con người trong chiến tranh đạn lửa, đến hạnh phúc khi được hy sinh vì ngày mai, tương lai của dân tộc là một quá trình thể hiện sự giao hòa bền chặt tự nguyện và thiêng liêng của cá nhân với cả cộng đồng, với cả công cuộc vĩ đại của đất nước. Em hạnh phúc khi được hy sinh cho tươi sáng buổi mai, vì vậy, khi em ra đi, chẳng để lại gì /Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi. Nụ cười của em chan chứa bao niềm vui, lấp lánh bao hạnh phúc. Đó là biểu tượng sáng ngời của hạnh phúc thiêng liêng:


Em đã ra đi với mắt cười thanh thản
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.


Giản dị, mộc mạc, chân thành, xúc động, những vần thơ của Dương Hương Ly đã cho người đọc cảm nhận đầy xúc động về hai chữ “hạnh phúc” thiêng liêng. Những câu thơ tự do với độ dài ngắn khác nhau, hình ảnh thơ vừa chân thực vừa mang tính biểu tượng cao đã cuốn độc giả vào trường cảm xúc của nhân vật trữ tình anh trước sự hy sinh của em, từ đó cho thấy rõ sự biến đổi trong quá trình hòa nhập giữa cá nhân với dân tộc, đất nước. Tác phẩm đã cho người đọc thấy được vẻ đẹp của con người ViệtNam trong chiến đấu, hiểu được không khí của một thời. Bài thơ là nỗi niềm riêng của thi sĩ song đã gợi được những vấn đề chung, tình cảnh chung, cảm xúc chung của biết bao thế hệ...


MiLi

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Đỗ Quyên với trường ca Lòng Hải Lý

“Trường ca Đỗ Quyên như chính cuộc sống của con người, nó là toàn bộ đời sống của con người với tư cách là một vũ trụ thu nhỏ. Không đơn giản chỉ dừng lại ở mạch tình cảm, mà chất trí tuệ mới là sợi dây xuyên suốt tạo nên linh hồn trong trường ca Đỗ Quyên. Chất trí tuệ ấy lấp lánh suốt cả bốn trường ca này, đôi khi nó là giọng nói triết lí phát ra từ những điều giản dị, đôi khi là những chiêm nghiệm về thời gian, về xã hội, về con người…”




Trường ca Lòng Hải Lý đẹp và sang trọng



Tập sách bao gồm bốn trường ca: “Lòng hải lý”, “Đống chữ”, “Buồn muộn cùng thế kỉ”, “Bài thơ không thuộc về ai”.
Không phải là thể loại dễ làm, trường ca cần một sự dài hơi, cần một mạch nguồn cảm xúc phong phú, nó đa dạng, phức tạp và liên tục biến đổi, nhưng vẫn giữ được mạch ngầm chủ đạo và nhất quán. Có thể thấy tác giả Đỗ Quyên đã thành công trong thể loại này, với bốn trường ca ấy đã đào sâu, phát triển tới mọi ngõ ngách của đời sống và của tình cảm con người. Mỗi trường ca là những sự cảm nhận, suy ngẫm khác nhau, những câu thơ kéo dài ra mãi nhưng không gây cảm giác nhàm chán mà nó là một sự tiếp nối. Câu thơ này tiếp nối câu thơ khác, ý thơ này tiếp nối ý thơ khác, như một bài thơ ngắn nhưng nó được mở rộng ra nhiều hướng, nhiều chiều của cuộc sống.
Trường ca Đỗ Quyên cố gắng đi sâu vào đời sống bên trong của con người, tiến sâu vào sự tự nhận thức bản thân. Nó không chỉ là sự phản ánh giản đơn những kinh nghiệm bề mặt, về cái bên ngoài. Chúng ta bắt gặp những câu thơ hay, những đoạn thơ giàu ý nghĩa:




Câu thơ nào cũng xỏ sẵn đôi giày đạp đổ
           các hoàng kim
Một là nhanh bước nhanh như các em bé dọc hè đường
Hai là ngồi lại thành mộ
Trạng thái giữa sống và chết không có



Những suy nghĩ của tác giả luôn luôn gợi lại trong lòng người một ý nghĩa nào đó, có thể là ý nghĩ về cuộc đời, về số phận, về con người và những chuyến đi bất tận… Mỗi trường đoạn mang trong mình một ý nghĩa riêng nhưng không tách ra khỏi mạch đi chung của toàn bộ trường ca. Đó là sự kết nối dựa trên ý tưởng và trải nghiệm cuộc sống phong phú của tác giả. Mỗi đời con người luôn luôn di chuyển từ hòn đảo này sang hòn đảo khác, từ vị trí này đến vịt trí khác cũng như những con tàu cứ lênh đênh muôn ngàn hải lý.



Bạn có trong chuyến tàu xuyên lục địa?
Dưới cơn mưa?
Đọc tiếng mùa xuân xưa?
Cơn mưa cô độc khởi từ các cuộc tình tốc hành cạm bẫy bàn chân không muốn ngh



Hay:
Xe đi xe về
chịu tra vấn bởi vòng tròn sinh tử
Nẻo đường dài ngó ngược đỉnh đồi
hỏi mãi các bàn chân im lặng
Trường ca nhiều khi là những câu, những đoạn tách rời, những khoảng trống và rất nhiều khúc lặng. Chúng ta có thể tiếp xúc với trường ca Đỗ Quyên từ những đoạn, những khúc lặng như vậy với tất cả sự phức tạp, đa dạng của niềm vui, nỗi buồn, tốt và xấu, hạnh phúc và khổ đau… Đỗ Quyên có cách nhìn khá thú vị và triết lý về cuộc đời:



Nơi đi
           Nơi đến
                      Giá tiền
                                 Tên họ
                                            Các điều quy định
Sau này lên thiên đàng
Hành trang may ra còn vậy!
Thu hoạch được gì
                                 trút cả lại
Quan tài phủ các tấm - vé - đời
Đại bách khoa toàn thư của mình
                                 cũng vậy

Một cuộc đời con người, cuối cùng cũng còn lại gì ngoài những điều như vậy, mỗi chặng đường như được mã hóa trong một chiếc vé. Cuộc đời mỗi người có mấy chiếc vé, có mấy chặng đường cuối cùng đều trút cả lại, có mang theo được gì đâu. Những buồn vui, thành bại đều gói gọn lại như vậy để mọi người cùng nhìn lại, thấy được cái hư vô của cuộc đời này:



Buồn vui, thành bại
Tấm vé rời
                      mỗi cái lật
                                 tra cứu lại
Những gì gì trọng đại
mình cho là ngẫu phát



Và:
Khi cổng thành khép lại
                      sau lưng
tấm vé chưa nằm yên
kích nới Lòng - Hải - Lý dài thêm
                                 trên các tấm vé mới
Cuộc đời con người đi qua nhiều chặng đường, nhiều dặm hải lý, để nối dài thêm những tấm vé cuộc đời.
Trường ca Đỗ Quyên như chính cuộc sống của con người, nó là toàn bộ đời sống của con người với tư cách là một vũ trụ thu nhỏ. Không đơn giản chỉ dừng lại ở mạch tình cảm, mà chất trí tuệ mới là sợi dây xuyên suốt tạo nên linh hồn trong trường ca Đỗ Quyên. Chất trí tuệ ấy lấp lánh suốt cả bốn trường ca này, đôi khi nó là giọng nói triết lí phát ra từ những điều giản dị, đôi khi là những chiêm nghiệm về thời gian, về xã hội, về con người… Một đời sống thu nhỏ với nhiều chiều kích cảm xúc được mở ra trong tập trường ca này. Đỗ Quyên đã thổi vào trong đó những tâm trạng, những suy nghĩ, những dự cảm, những day dứt khôn nguôi của chính nhà thơ về cuộc sống, về hạnh phúc, về thân phận của con người... trước cuộc đời đầy biến đổi mỗi giây mỗi phút và con người cũng bị cuốn vào vòng biến đổi ấy. Với một cách nhìn khác, một cách cảm nhận riêng và một cách viết lôi cuốn, tác giả đã đã làm cho người đọc bị hút vào mỗi câu thơ, mỗi đoạn, trường đoạn. Đọc để khám phá, để hiểu hơn về con người, về cuộc sống, những cám dỗ, danh lợi, phù hoa… và hơn hết là hiểu hơn về chính bản thân mình.
Và trường ca Đỗ Quyên chính là một cuộc hành trình muôn dặm đã được chuẩn bị chu đáo bằng chính những kiến thức, những chiêm nghiệm và đặc biệt là bằng chính tình cảm phong phú và dạt dào của tác giả. Phần còn lại chính là sự khám phá của mỗi người đọc, chắc chắn rằng mỗi người sẽ tìm được cho mình những ý nghĩa riêng khi đọc tập trường ca này.




VƯƠNG HÙNG



11/7/2011




=======

http://lucbat.com/?tab=news&id=8014




Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

"TIẾNG THU" của LƯU TRỌNG LƯ

Trần Đăng Khoa

Nhân kỷ niệm 100 nămngày sinh nhà thơ Lưu Trọng Lư (19/6/1911 - 19/6/2011)







Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ...
Lưu Trọng Lư là nhà thơ tiên phong của phong trào Thơ mới. Nhận định về nghệ thuật thơ ông, nhà phê bình thiên tài Hoài Thanh đã có những nhận xét thật chuẩn xác: "Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không biết chọn chữ, không chịu khó gọt giũa câu thơ. Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy".
Nhận định này dường như đã thành nỗi ám ảnh. Và rồi suốt đời, Lưu Trọng Lư cứ loạng choạng, cứ bập bõm bước trong cái vòng kim cô mà Hoài Thanh đã tiên đoán và vạch ra ngay từ khi ông mới xuất hiện trên thi đàn. Còn về con người Lưu Trọng Lư, thiết tưởng cũng chẳng có ai hiểu ông hơn Hoài Thanh: "Cả đời Lư cũng là một bài thơ. Nếu quả như người ta vẫn nói, thi sĩ là một kẻ ngơ ngơ ngác ngác, chân bước chập chững trên đường đời, thì có lẽ Lư thi sĩ hơn ai hết".
Quả đúng vậy. Và nếu chọn một bài thơ thơ nhất của Việt Nam, nghĩa là ngoài thơ ra, nó không có gì bấu víu, thì đó chính là Tiếng thu. Đây là bài hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư, cũng là bài thơ thơ nhất của thi ca Việt Nam hiện đại:
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạo trên lá vàng khô...
Bài thơ vẻn vẹn có 9 câu, chia làm ba đoạn, mỗi đoạn lại so le, các ý trong bài thơ rời rạc, khấp khểnh, chẳng ý nào ăn nhập với ý nào. Nếu cứ theo cách hiểu máy móc của những nhà phê bình quen thói bắt bẻ, cứ đè thơ ra mà tìm tư tưởng, tìm ý nghĩa thì đây là bài thơ "đầu Ngô mình Sở". Đã thế, tác giả còn tỏ ra vụng về. Tỳ vết của sự thô vụng ấy nằm trong hai câu chẳng thơ tý nào, nó như câu văn xuôi bình giảng văn học của học sinh phổ thông:
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ
Ấy vậy mà khi gộp tất cả lại, nằm trong một tổng thể, bài thơ hay đến lạ lùng. Người ta không còn thấy dấu vết thô vụng đâu nữa. Đây là điều duy nhất xảy ra ở văn học Việt Nam và chỉ xảy ra có một lần. Cái hay của bài thơ này không nằm ở câu chữ. Nó hoàn toàn siêu thoát, là cái hồn phảng phất đâu đó đằng sau những con chữ rất sáng tỏ mà lại vời vợi mông lung kia. Người ta chỉ cảm thấy được, chứ không thể nói ra được một cách rạch ròi. Đây là bức tranh thiên nhiên được vẽ bằng hồn, bằng cả điệu nhạc rất riêng của tâm hồn thi sĩ. Bởi nó, chứ không thể ngắm nó bằng lý trí tỉnh táo. Đã không ít nhà phê bình nghiên cứu mang lý trí ra để làm con dao cùn mổ xẻ những con chữ rất ngơ ngác này. Có người còn viện đến cả thi pháp học để cố hiểu cho bằng được bài thơ, lấy thi pháp làm chìa khoá mở cánh cửa thực dụng, đi vào cõi mù mờ tâm linh này. Bằng cách vận dụng thi pháp, có người cho đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn không có sự chia sẻ. Không phải ngẫu nhiên bài thơ có 9 câu mà đã có đến 3 câu điệp "Em không nghe":
Em không nghe mùa thu
...
Em không nghe rạo rực
...
Em không nghe rừng thu...

Em không nghe, còn anh thì nghe thấy hết. Nghe thấy hết mà không nói ra được. Đây là cuộc đối thoại mà kẻ đối thoại lại ẩn sau sự câm lặng. Hoặc giả em cũng đã nghe thấy, nhưng anh vẫn hỏi như vậy, nghĩa là anh không hiểu em. Đằng nào thì cũng vẫn cứ là thiếu niềm đồng cảm. Một bên thì thổn thức, rạo rực, kêu xào xác, một bên thì không nghe, không nghe, không nghe, cả con nai ngơ ngác, đạp trên lá vàng khô, nghĩa là nó cũng không nghe nốt. Hiểu một cách sống sít như thế thì thật thô thiển. Nhà phê bình đã kéo những đám mây ngũ sắc đang bay bảng lảng trong không trung, rồi rải xuống đường làm rơm rạ lót chân, và như thế còn đâu cánh rừng thu, tâm hồn thu cho con nai vàng trú ngụ. Mấy câu điệp khúc ấy thực chất chỉ để tạo giai điệu rất đặc biệt cho bài thơ này. Ở đây, nhạc điệu cũng là một phần nội dung chính làm nên hồn vía bài thơ còn ở góc độ khác, cũng nhìn bằng com mắt lý trí, có người còn cho rằng đây là bài thơ Lưu Trọng Lư thâu cóp của nước ngoài. Thực tế trong bếp núc sáng tác, có thể có sự trùng hợp ngẫu nhiên. Người bình luận còn viện cớ rằng: "Thực tế Việt Nam làm gì có khu rừng vàng. Đấy là rừng châu Âu. Rừng Việt Nam là rừng luốm nhuốm". Mùa thu Việt Nam đúng như Nguyễn Du mô tả trong Kiều: "Rừng thu từng biếc chen hồng". Và con nai Việt Nam cũng nhanh nhẹn lắm, tinh ranh lắm, nó đâu có ngơ ngác "đạp trên lá vàng khô"! Ơ hay, Lưu Trọng Lư có nhìn thiên nhiên bằng con mắt thịt đâu! Lại phải mời Hoài Thanh về làm luật sư bào chữa cho ông thôi: "Trong thơ Lư, nếu có cả chim kêu, hoa nở, ta cũng chớ tin. Hay ta hãy tin rằng tiếng ấy, màu kia chỉ có ở trong mộng. Mộng! Đó mới là quê hương của Lư. Thế giới thực của ta với bao nhiêu thanh sắc huy hoàng, Lư không nghe thấy gì đâu. Sống ở thế kỷ 20, ngày ngày nện gót trên các con đường Hà Nội mà người cứ mơ màng thấy mình gò ngựa ở những chốn xa xăm nào".
Tương truyền khi viết bài thơ này, Lưu Trọng Lư đến thăm nhà một người bạn. Rồi nhân cớ thấy cái bình gốm cổ có vẽ con nai đứng giữa núi non, Lưu Trọng Lư bèn vịnh ngay bài thơ này. Thực chất, nếu chuyện đó là thật, thì con nai trên bình gốm chỉ là cái cớ rất nhỏ, là tiếng động rất nhỏ đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn đánh thức con nai vàng và khu rừng vàng trong tâm hồn Lưu Trọng Lư thức dậy và toả hương. Nhờ thế, thi ca Việt Nam đã có một kiệt tác thật hiếm có, ngỡ như đó là khúc nhạc huyền bí của thần linh, chứ quyết không phải là tiếng ca phàm tục của người đời...




Thu Hoàng st