Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

10 bức họa nổi tiếng về phụ nữ

Mời các bạn thưởng thức những kiệt tác "vĩnh cửu" từ thế kỷ 15...

1. The Birth of Venus (Sự ra đời của thần Vệ Nữ)
Tác giả: Sandro Botticelli (Italy)
Năm hoàn thành: 1486

1-The-Birth-of-Venus-jpg-1362389426_500x

Sandro Botticelli là một họa sĩ thiên tài người Italy vào thời kỳ tiền Phục Hưng. The Birth of Venus là tác phẩm vĩ đại nhất của ông và được coi như là một biểu tượng của “Chân - Thiện - Mỹ”. Trong thần thoại Hy Lạp, thần Vệ Nữ được sinh ra từ bọt biển, là con của Chúa tể bầu trời - thần Uranus. Sự ra đời của thần Vệ Nữ trở thành một đề tài lớn trong hội họa, trong đó có những bức tranh rất nổi tiếng của Cabanel, Bouguereau hay Amaury Duval.
Tuy vậy, bức tranh của Botticelli vẫn được công nhận rộng rãi là tác phẩm hoàn hảo và kinh điển nhất. Trong tranh, thần Vệ Nữ được miêu tả có mái tóc mây vàng rực rỡ, làn da trắng muốt, gương mặt thánh thiện và làn môi mọng. Vệ Nữ có cơ thể tròn trịa, đầy đặn, tràn đầy sức sống, tượng trưng cho sự sinh sôi, tình yêu, hoan lạc và sắc đẹp.

2. Mona Lisa (Nàng Mona Lisa)
Tác giả: Leonardo da Vinci (Italy)
Năm hoàn thành: khoảng 1503 – 1506

2-Mona-Lisa-Leonardo-da-Vinci-jpg-136238

Leonardo da Vinci là một thiên tài toàn năng người Italy: một họa sĩ, kiến trúc sư kiệt xuất, một nhạc sĩ, một kỹ sư siêu việt, một nhà khoa học đi trước thời đại…Mona Lisa, không nghi ngờ gì, là tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất thế giới, được coi như chuẩn mực của cái đẹp.
Bức họa thể hiện một người đàn bà đầy đặn, trông có vẻ phúc hậu đang đan tay vào nhau, khóe miệng khẽ giãn ra một nụ cười hư ảo. Hậu thế đã cố gắng phân tích bí ẩn trong nụ cười của nàng Mona Lisa: nàng đang cười hay không cười, nụ cười đó có ý nghĩa gì, làm sao da Vinci có thể tạo nên một nụ cười như vậy… nhưng chưa bao giờ đưa ra được câu trả lời thỏa mãn. Đã có hàng loạt giả thuyết, huyền thoại xung quanh nguyên mẫu của bức tranh.
Người ta tranh cãi nguyên mẫu của bức tranh là mẹ của họa sĩ, một gái điếm, vợ của một thương gia giàu có, người tình đồng giới của ông hoặc là chính Leonardo da Vinci. Đáp lại sự tò mò của hậu thế, Mona Lisa vẫn mãi mãi mỉm cười bí ẩn, như thể luôn muốn nói một điều gì mà chẳng bao giờ nói.

3. Sleeping Venus (Vệ Nữ say ngủ)
Tác giả: Giorgione (Italy)
Năm hoàn thành: 1510

3-Sleeping-venus-jpg-1362389427_500x0.jp

Giorgione là một bậc thầy hội họa của phong trào Phục Hưng. Cuộc đời của ông ngắn ngủi, để lại không nhiều tác phẩm và trong số đó, Sleeping Venus là bức tranh nổi tiếng nhất. Khi Giorgione mất, bức Sleeping Venus vẫn còn dang dở và Titian, một danh họa vĩ đại khác, cũng là bạn của ông đã hoàn thành bức tranh bằng cách vẽ thêm phong cảnh và bầu trời.
Sleeping Venus vẽ một phụ nữ nằm nghiêng, mắt nhắm nghiền như đang ngủ, mặt khẽ quay về hướng người xem, tay phải làm gối, tay trái đặt hờ lên cơ thể, chân trái duỗi đặt trên chân phải hơi co lại – một kiểu bố cục kinh điển mà rất nhiều tác phẩm hội họa về sau đã học theo. Thiên nhiên đằng sau nàng cũng có những đường cong tinh tế như họa lại cơ thể của người đàn bà, tôn vinh sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên. Việc vẽ một người phụ nữ khỏa thân đánh dấu một cuộc cách mạng trong nghệ thuật và được coi là một trong những điểm khởi đầu của mỹ thuật hiện đại.

4. Girl with a Pearl Earring (Thiếu nữ đeo hoa tai ngọc trai)
Tác giả: Johannes Vermeer (Hà Lan)
Năm hoàn thành: khoảng năm 1665

4-Girl-with-a-Pearl-Earring-jpg-13623894

Johannes Vermeer là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất của Thời đại Hoàng kim Hà Lan. Sinh thời, ông vẽ rất chậm và để lại rất ít tranh, phần lớn tranh của ông lấy đề tài những người phụ nữ của tầng lớp bình dân. Girl with a Pearl Earring là một trong những kiệt tác để đời của ông, được mệnh danh là “Mona Lisa Hà Lan” hoặc “Mona Lisa phương Bắc”.
Bức tranh mô tả một thiếu nữ nhìn nghiêng, khăn đội đầu che hết mái tóc, đồ trang sức duy nhất là một bên hoa tai bằng ngọc trai. Thiếu nữ trong tranh có đôi mắt tròn to, lộ vẻ rụt rè, sợ hãi nhưng làn môi mọng lại hé mở, khơi gợi ham muốn. Bức tranh vừa thể hiện sự ngây thơ mong manh, vừa phảng phất một sự cám dỗ gọi mời. Ánh sáng phản chiếu trên hoa tai ngọc trai là một điểm nhấn hoàn hảo của tác phẩm. Năm 1999, Tracy Chevalier đã viết một cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng cùng tên với cảm hứng dựa trên bức tranh này.

5. Whistler’s Mother (Mẹ của Whistler)
Tác giả: James McNeil Whistler (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1871

5-Whistler-s-mother-jpg-1362389427_500x0

Whistler là một họa sĩ nổi tiếng gốc Mỹ, một trong những chủ soái của phong trào “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Whistler’s Mother là bức tranh nổi tiếng nhất của ông, được coi là biểu tượng Mỹ và “Mona Lisa của thời Victoria”.
Tương truyền, Whistler đã định vẽ một người khác nhưng bất thành và ông liền thay thế người mẫu bằng chính mẹ ông, bà Anna Whistler. Cũng có tin đồn, đầu tiên bà Whistler được vẽ đứng nhưng sau đó vì quá mỏi chân, bà phải ngồi trên ghế.
Trong tranh, bà mặc một bộ váy màu đen giản dị, ngồi gọn gàng, tay đặt trên váy, chân đặt trên chiếc ghế để chân, nhìn chăm chú về phía trước. Nét mặt nghiêm trang và tông màu đen xám của bức tranh gợi một cảm giác ngột ngạt và tang tóc như thể một điều gì đó rất nghiêm trọng đang xảy ra. Tuy nhiên, ngày nay bức tranh được rộng rãi công nhận như là một biểu tượng mẫu mực của tình mẹ.

6. Portrait of an Unknown Woman 
(Người đàn bà xa lạ)
Tác giả: Ivan Nikolaevich Kramskoi (Nga) 
Năm hoàn thành: 1883

6-Portrait-of-an-unknown-woman-jpg-13623

Kramskoi là một họa sĩ và nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng, chủ soái của phong trào nghệ thuật dân chủ Nga. Portrait of an Unknown Woman được coi là một kiệt tác của nền hội họa Nga và từ lâu đã rất quen thuộc với công chúng Việt Nam với tên gọi Người đàn bà xa lạ.
Bức tranh vẽ một người phụ nữ ngồi trên xe ngựa mui trần vào buổi sáng mùa đông ảm đạm, tuyết phủ trắng xóa mái nhà. Người phụ nữ trong tranh quý phái và kiêu hãnh với đầu ngẩng cao, môi mím chặt nghiêm nghị, ánh mắt nhìn xuống uể oải.
Cho đến nay, nguyên mẫu của bức họa vẫn là một điều bí ẩn với rất nhiều phỏng đoán chưa được chứng minh. Bức tranh thường được ví với Anna Karenina trong kiệt tác cùng tên của đại văn hào Leo Tolstoy và đã nhiều lần được dùng để minh họa cho trang bìa của cuốn sách. Bức tranh được đánh giá là thể hiện tính cách Nga rõ rệt và là một biểu tượng của sự đài các, thượng lưu.

7. Madame X (Quý bà X)
Tác giả: John Singer Sargent (Mỹ)
Năm hoàn thành: 1884

7-Madame-X-jpeg-1362389427_500x0.jpg

John Singer Sargent là một họa sĩ vẽ tranh chân dung hàng đầu thế kỷ 19. Madame Xlà bức tranh nổi tiếng và có lẽ là tai tiếng nhất của ông.
Người phụ nữ trong tranh là Virginie Gautreau, vợ của một ông chủ nhà băng giàu có người Pháp. Sinh thời, bà rất nổi tiếng trong giới thượng lưu Paris vì sắc đẹp ưu việt của mình. Bức chân dung vẽ bà trong bộ váy màu đen cúp ngực, tay phải làm trụ khẽ đỡ lấy cơ thể, tay khác bấu hờ vạt váy và gương mặt quay đi hướng khác. Màu đen bóng của bộ váy cùng tông màu nâu của hậu cảnh như tương phản và càng làm nổi bật thêm làn da trắng nhức.
Cơ thể người mẫu như hướng về phía người họa sĩ nhưng đầu lại quay sang một bên, vẻ lảng tránh, tạo cảm giác xung đột, vừa muốn tiến đến vừa muốn cưỡng lại. Bức tranh bị coi là khêu gợi, không đứng đắn và trở thành một "quả bom" scandal thời bấy giờ. Bà Gautreau từ đó không xuất hiện trước công chúng nữa còn họa sĩ Sargent thì nhanh chóng rời khỏi Pháp, định cư lâu dài ở London.

8. Flaming June (Tháng Sáu bỏng cháy)
Tác giả: Nam tước Frederic Leighton (Anh)
Năm hoàn thành: 1895

8-Flaming-June-jpg-1362389428_500x0.jpg

Nam tước Frederic Leighton là một họa sĩ kiêm nhà điêu khắc nổi tiếng người Anh.Flaming June là tác phẩm tiêu biểu nhất của ông và được coi là một kiệt tác của hội họa thế giới.
Nguyên mẫu trong tranh là nữ diễn viên Dorothy Dene, người được đánh giá là có gương mặt và hình thể giống với hình mẫu lý tưởng của Leighton nhất. Dorothy Dene vào những năm 1890 cũng được mệnh danh là người đẹp nhất nước Anh. Bức tranh khắc họa cô đang nằm ngủ trong một tư thế thiếu tự nhiên tựa như đó chỉ là một giấc ngủ ngắn mệt nhọc.
Tác phẩm đẫm chìm trong màu hổ phách hoàn hảo và cảnh dòng sông ở hậu cảnh gần như sáng trắng dưới ánh nắng mặt trời tháng sáu. Bộ váy mỏng manh trong suốt thể hiện những đường cong tinh tế của người phụ nữ. Cây trúc đào bên góc phải tượng trưng cho sự mong manh giữa giấc ngủ và cái chết. Thiếu nữ trong tranh với vẻ đẹp vừa nhục dục vừa trong sáng khiến người xem nhớ đến những tiên nữ nanh-phơ trong thần thoại Hy Lạp ngày xưa.

9. Portrait of Adele Bloch-Bauer I 
(Chân dung nàng Adele Bloch-Bauer I)
Tác giả: Gustav Klimt (Áo)
Năm hoàn thành: 1907

9-Portrait-of-Adele-Bloch-Bauer-I-jpg-13

Gustav Klimt là một họa sĩ thiên tài người Áo, nổi tiếng với những đề tài về phụ nữ và tình yêu. Cho tới nay, Portrait of Adele Bloch-Bauer I là một trong 5 bức tranh được trả giá cao nhất trong lịch sử. Năm 2006, bức tranh được bán với giá kỷ lục 135 triệu USD, trở thành bức tranh đắt giá nhất lúc bấy giờ.
Adele Bloch-Bauer là vợ của một nhà tư bản kếch xù, người thường mạnh dạn ủng hộ và giúp đỡ tiền bạc cho Gustav Klimt. Bà là tình nhân bí mật của Klimt và cũng là người phụ nữ duy nhất được họa sĩ hai lần vẽ chân dung. Bức chân dung thứ hai của bà, Portrait of Adele Bloch-Bauer II, từng được trả giá 88 triệu USD, cũng là một trong những bức tranh đắt giá nhất thế giới.
Portrait of Adele Bloch-Bauer I tràn ngập một màu vàng vương giả, người phụ nữ trong tranh trông thoải mái và đường bệ như một nữ hoàng. Bức tranh còn được mệnh danh là “Mona Lisa của nước Áo” hoặc “Phu nhân vàng”.

10. Dora Maar with Cat (Dora Maar với Mèo)
Tác giả: Pablo Picasso (Tây Ban Nha)
Năm hoàn thành: 1941
10-Dora-Maar-with-cat-jpg-1362389428_500

Picasso là họa sĩ thiên tài người Tây Ban Nha, một trong những cái tên sáng chói nhất trong giới hội họa thế kỷ 20. Dora Maar with Cat được giới phê bình cùng công chúng đánh giá cao và là một trong những bức tranh đắt nhất thế giới với giá hơn 95 triệu USD.
Dora Maar là người tình lâu năm của họa sĩ và cũng là một nhiếp ảnh, họa sĩ có tiếng. Trong tranh, bà ngồi trên một cái ghế trông như ngai vàng với một cái mũ trông như vương miện trên đầu. Một con mèo nhỏ xuất hiện bên vai phải, trông vừa có sự hăm dọa, vừa có vẻ hài hước. Những móng tay của Dora Maar cũng được vẽ rất dài và sắc nhọn, hàm ý cô cũng là một con mèo nhỏ ranh mãnh. Bức tranh cũng rất nổi tiếng về sự lựa chọn màu sắc, phối màu phức tạp.

Bình Doan st

Thứ Bảy, 16 tháng 3, 2013

Lặng lẽ phía sau

(Bài viết về bà Cao Thị Xuân Cam - vợ nhà văn Văn Tâm)
Nhật Huy

Giới văn nghệ sĩ nhiều người biết và luôn gọi bà bằng cái tên thân mật thường ngày: Bà Cam (ảnh). Cũng đã nhiều thế hệ văn nghệ sĩ, khi nhắc đến số nhà 13 Phan Bội Châu đều biết đó là căn nhà quen thuộc của nhiều văn nhân, bạn hữu từng lui tới đàm đạo văn chương với thân phụ của bà: Cố giáo sư Cao Xuân Huy, nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng và triết học phương Đông, từng được gọi là “nhà đạo học” ngay từ thuở 30 tuổi. Người đã để lại một số giáo trình đại học có giá trị về Kinh dịch, Luận ngữ, Mạnh tử, Bách gia chư tử. Và anh trai bà, giáo sư, dịch giả nổi tiếng Cao Xuân Hạo. Sau này, khi kết hôn với nhà văn Văn Tâm, những bạn bè thân thường gọi thêm bà bằng một cái tên đầy trìu mến mà bà luôn hãnh diện mỉm cười đáp lễ: Chị Tâm. 


Theo dòng hồi tưởng, bà kể lại câu chuyện về cuộc đời cũng như những năm tháng làm vợ của nhà văn Văn Tâm với một vẻ mặt tràn đầy hạnh phúc. Năm 1954, do hoàn cảnh của đất nước, mẹ bà vào Nam, chỉ còn bà và cha mình, giáo sư Cao Xuân Huy, từ xứ Nghệ trở ra Bắc. Mọi thứ đối đều bỡ ngỡ với một cô gái 18 tuổi từ xứ Nghệ bước ra chốn Hà thành. Cũng bởi thế, bà chịu nhiều thiệt thòi trong đời sống thường ngày, ở cách mà một cô gái cần gần mẹ và được sự chỉ dạy của người mẹ.

Là con gái ở tuổi mới lớn, nhưng so với bạn bè đồng trang lứa, bà là người không biết cách làm dáng. Bù lại, bà thông minh và học giỏi. Là con của một học giả, nên bà Cao Thị Xuân Cam chỉ biết học, đọc, trọng chữ nghĩa như cha bà vẫn khuyên bảo. Bà đã lớn lên và trưởng thành như một bông hoa đồng nội giữa chốn đô thành phồn hoa.

Có ai đó đã nói rằng, đường đi của số phận không bao giờ tính được, thì sự gặp gỡ giữa bà và nhà văn Văn Tâm, một người học trò mà cha bà yêu quý, một người bạn thân mà anh trai của bà luôn trân trọng, chính là một sự an bài của số phận. Bà Cam kể lại: “Một hôm cha tôi gọi tôi vào và bảo: “Có anh bạn anh Hạo muốn tìm hiểu con, con định thế nào?” - “Con có biết mặt mũi anh ấy ra sao mà trả lời cha?”. Vài hôm sau, khi đi học về, tôi thấy một anh đi từ nhà trọ bên cạnh vào nhà chơi. Anh chào tôi và tiến đến hỏi: “Cho anh tìm hiểu em nhé!”. Hồi đó tôi dại khờ và ngây thơ lắm. Chả là ngày còn đi học phổ thông ở Nghệ An, tôi mê một anh bạn cùng lớp. Đó là một người con trai Hà Nội vào tản cư ở Nghệ An, học giỏi, giọng nói nhẹ nhàng. Mối tình học trò ấy đơn phương ấy đã đeo đẳng trong tôi một thời gian, dù chưa bao giờ tôi dám thể hiện cho người con trai ấy biết. Nhưng thời trẻ con, cái gì cũng đẹp và đáng nâng niu. Bởi thế, tôi thật thà nói với anh Văn Tâm: “Em đang thích một anh khác rồi!”. Tưởng là anh ấy sẽ bỏ đi luôn, nhưng anh Văn Tâm nhẹ nhàng nói: “Vậy thì lúc nào em quên được anh ấy thì chúng ta sẽ tìm hiểu nhau”. 

Từ đó, anh đi bên cạnh cuộc đời tôi, tôi ra bờ đê giặt áo, anh cũng đi cùng, tôi tan trường đã thấy anh đứng đợi. Anh không chỉ là một người bạn, mà là một người anh, một người thầy của tôi. Không ai khác, chính anh Văn Tâm đã dạy cho tôi từng đường đi, nước bước, từ cách chải đầu, từ dáng đi sao cho đoan trang, chín chắn, từ cách nói năng sao cho tròn vẹn trước sau... Cái gì chưa biết, tôi hỏi anh và anh chỉ bảo tận tình như với một cô em gái. Cũng có lúc tôi xấu hổ vì mình… ngố quá nhưng tính tôi không biết giận, biết hờn. Chính những điều cỏn con từ đời sống thường ngày ấy, tình cảm tự nhiên của tôi đã dành trọn cho anh. Thậm chí, khi đó, có đôi lúc tôi nghĩ rằng, nếu sau ngần ấy thời gian biết anh, nếu chẳng may vì một điều gì đó chúng tôi không đến được với nhau, có lẽ tôi cũng chỉ tình nguyện ở vậy mà tôn thờ anh cho đến hết cuộc đời”.

Đám cưới của nhà văn Văn Tâm và bà giản dị và ấm cúng trong một căn hộ tập thể nhỏ xíu nhờ được của nhà thầy giáo. Bà vẫn nhớ, quà cưới của bạn bè hồi ấy là mấy cuốn vở trắng và một chiếc nón lá. Nhưng quý nhất là người tuyên bố lễ kết giao vợ chồng cho bà chính là giáo sư Trương Tửu. Cưới xong thì ai lại về nhà nấy vì lúc đó nhà văn Văn Tâm đi làm gia sư cho một gia đình tư sản ở Hà Nội và ăn ngủ luôn tại gia đình họ. Bà về ở với cha mình. Năm đó, bà đang học năm thứ nhất trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Bốn năm kết thúc đại học cũng là lúc ba người con, hai gái một trai lần lượt chào đời. Vừa đi học, vừa sinh con. Có lúc bà ái ngại với các thầy, các bạn. Nhưng chính vì điều đó, bà càng phấn đấu học giỏi. Tốt nghiệp ra trường, bà đã được về công tác ở Ủy ban Khoa học Nhà nước, được phân công vào ban dịch thuật, làm từ điển tiếng Nga. Thời gian sau bà chuyển sang Nhà xuất bản Khoa học và làm ở đó cho đến lúc nghỉ hưu.

Hồi tưởng về dòng thời gian cũ, gương mặt của bà Cam ánh lên nét rạng ngời. Bà lấy trong tủ sách ra những tấm ảnh sinh thời của nhà văn Văn Tâm và những bạn hữu, rồi những bức hình ông bà chụp cùng con cháu, ảnh chụp ở đâu, lúc nào, nhân sự kiện nào bà đều nhớ. Từng bức ảnh như một thước phim quay chậm về một ký ức đẹp chưa bao giờ mờ phai trong tâm trí. Bà bảo, ở đời, bà mang ơn hai người đàn bà, đó là mẹ chồng và nàng dâu. Hai người đàn bà mình không được chăm sóc cận kề, không đẻ, không nuôi, vậy mà họ đến với cuộc đời mình và cho mình bao nhiêu thứ. Bà mang ơn mẹ chồng đã sinh ra ở cuộc đời một người con, mà đối với bà là cả một thế giới rộng lớn của tri thức, quá đủ để bà có thể nương tựa và yêu thương. Từ khi biết ông, bà biết được thế nào là hạnh phúc. Cũng vì thế, bà sống và làm mọi điều vì chồng, vì con. Bà chăm bẵm gia đình để ông chuyên tâm với công việc nghiên cứu. 

Một người bạn của nhà văn Văn Tâm, PGS.TS Vũ Thanh từng chia sẻ: “Đối với ông, bà vừa là thư ký, vừa là hộ lý, bác sĩ, đạo hữu... và trên hết là một người vợ rất mực thủy chung, hiền dịu, đảm đang, người bạn đời nâng đỡ cho ông từng giấc ngủ, bước đi. Chính bà là người đã làm dịu bớt đi trong ông những bi kịch mà cuộc đời và số phận đã liên tiếp giáng xuống người trí thức tài hoa - người mà dường như triết lý “chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau” vẫn luôn theo đuổi trên mỗi bước đường đời”.

Trong cuộc sống đời thường, nhà văn Văn Tâm coi trọng đạo hiếu và lễ nghĩa bao nhiêu thì trong nghiên cứu khoa học ông lại càng nghiêm túc và khắt khe bấy nhiêu. Gia đình bà có một “luật bất thành văn” là khi ông đang đọc sách, đang viết, thì không được bất cứ ai hỏi han điều gì bởi có thể làm ông mất mạch văn hoặc cảm xúc. Bà nhớ có lần, đã quá 12 giờ trưa, cơm đã dọn sẵn và các con đang đói lắm rồi, chỉ chờ ông rời bàn sách vào ăn cơm. Biết chỉ có cậu út Nguyễn Cao Tuấn có thể “làm phiền” ông nên các chị đã “xui” em ra mời bố vào xơi cơm. Khi Cao Tuấn ra, ông không ngước lên, tay vẫn viết và chỉ nói hai chữ ngắn gọn, đầy tính giản lược “trước đi” (tức là ăn trước đi) và tiếp tục viết. Bởi thế, trong cuộc đời làm nghề của mình, nhà văn Văn Tâm đã có những công trình khoa học để lại những dấu ấn quan trọng trong nền văn học nước nhà như: “Vũ Trọng Phụng, nhà văn hiện thực”, “Tản Đà, khối mâu thuẫn lớn”, “Đoàn Phú Tứ, con người và tác phẩm”, “Góp lời thiên cổ sự”, “Vườn khua một mình”, “Tuyển tập Văn Tâm”…

Tôi hỏi bà Cam: “Nếu bây giờ có một điều gì đáng nhớ nhất về người bạn đời của mình, bà sẽ kể chuyện gì?”. Bà Cam cười hiền: “Không thể nói là cái gì nhất cái gì nhì vì những gì thuộc về anh ấy đối với tôi đều đáng nhớ. Nói đúng hơn là cho đến nay, tôi chưa quên bất cứ điều gì thuộc về anh ấy...”. 

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

VĂN HÓA ỨNG XỬ
TRONG CUỘC SỐNG


QUÀ SINH NHẬT

  Trong năm đứa con của má, chị nghèo nhất. Chồng mất sớm, con đang tuổi ăn học.Gần tới lễ mừng thọ 70 tuổi của má, cả nhà họp bàn xem nên chọn nhà hàng nào, bao nhiêu bàn, mời bao nhiêu người.
  Chị lặng lẽ đến bên má: "Má ơi, má thèm gì, để con nấu má ăn ?"
 Chưa tan tiệc, Má xin phép về sớm vì mệt. Ai cũng chặc lưỡi: "Sao má chẳng ăn gì ?"
  Về nhà, mọi người tìm má. Dưới bếp, má đang ăn cơm với tô canh chua lá me và dĩa cá bóng kho tiêu chị mang đến...
******

LỄ TỐT NGHIỆP

  Cô sinh viên sắp nhận bằng cử nhân giãy nảy lên hỏi người mẹ quê mùa còm cõi:
- Má! Má lên đây làm gì?
- Má nghỉ bán một bữa lên coi con lãnh bằng tốt nghiệp.
- Không được đâu. Bữa nay bạn con đông lắm, mà má lại ăn mặc thế này.
- Thì má còn bộ nào khác đâu. Thôi cho má vào. Má...
- Thôi, thôi, má về đi. Con thì thế này, má thì thế kia. Tụi bạn con nó cười.
  Nói rồi, cô sinh viên xinh đẹp chạy ào vào trong hội trường khi được xướng tên.
Người mẹ nhìn theo mắt cay cay...

********
TẠI CỬA HÀNG FASTFOOD

  Một bà cụ 80 tuổi đến một quán ăn hỏi nhân viên phục vụ :“Bà chỉ có mười ngàn, bà muốn uống canh.”
   Vì bà cụ đã lớn tuổi, nói chuyện nghe không rõ lắm.Khi đó tôi có thể cảm nhận được sự ngại ngùng của bà, vẻ mặt của bà thiếu điều muốn khóc.

  Một lúc sau, nữ phục vụ bưng ra một bát cơm và canh nóng để trước mặt cụ.
  Bà cụ nhìn thấy trong cơm có thịt, liền vội nói :
“Bà không cần thịt, bà chỉ có mười ngàn thôi.”
  Nữ phục vụ nhỏ nhẹ đáp lại :
“Bà ơi, cái này không tính tiền, bà cứ từ từ dùng ạ!”

  Mỗi người chúng ta ai cũng sẽ già đi, sống tốt với người già luôn là một nét đẹp đạo đức của con người.


********

XÓT XA

      Tốt nghiệp Đại học Văn hóa – Nghệ thuật – Du lịch, chị Hai ở luôn trên Thành phố làm Phó giám đốc cho một công ty Đầu tư và phát triển Du lịch tại Sài Gòn. Mãi đến hôm nay – dễ chừng gần ba năm – chị Hai mới về. Cả nhà khôn xiết vui mừng. Má lật đật chèo xuồng đến chợ nổi mua đồ về làm bữa cơm thịnh soạn:
- Tội nghiệp chị Hai tụi bay, hồi giờ có được bữa ăn nào đàng hoàng, tử tế đâu?

    Đang ăn, chị Hai bỗng giật mình, lấy đũa khều một sợi tóc từ trong đĩa lòng xào ra:
- Ai làm bê bối và cẩu thả thế này? Kiểu này ở nhà hàng họ đã đổ vào thùng nước cơm! Khách du lịch mà biết, chỉ có nước đóng cửa dẹp tiệm! Sạt nghiệp là cái chắc!
  Nói xong, chị Hai đứng dậy bỏ ăn, nhanh chân bước lên nhà trên.
  Từ nãy giờ, má ngồi đó, im lìm như tượng đá. Thằng Út cầm sợi tóc lên săm soi một lúc rồi la to lên, giọng còn ngọng nghịu :
- Sợi tóc bạc hơn một nửa rồi má ơi

********

ĐIỀU GÌ XẢY RA TRÊN CÁC HÃNG HÀNG KHÔNG 

   Một phụ nữ da trắng 50 tuổi đi đến chỗ ngồi của bà, và nhìn thấy hành khách kế bên bà ta là một người da đen.
    Người phụ nữ đột nhiên tức giận, và gọi ngay cô tiếp viên hàng không.
- Có vấn đề gì không, thưa bà ? - Cô tiếp viên hàng không hỏi.
- Cô không nhìn thấy à ? – Người phụ nữ nói : Tôi được xếp chỗ ngồi kế bên một người đàn ông da đen. Tôi không thể ngồi cạnh anh ta. Cô hãy đổi chỗ ngồi cho tôi ngay.
- Xin hãy bình tĩnh, thưa bà. – Cô tiếp viên hàng không nói.
  Thật không may, tất cả các ghế đều đã đầy, nhưng tôi vẫn sẽ kiểm tra nếu chúng tôi còn chỗ.
Cô tiếp viên rời khỏi và quay lại sau vài phút.
- Thưa bà, như tôi đã nói với bà, không còn bất kì chỗ trống nào cho hạng rẻ nhất nữa. Nhưng tôi đã nói chuyện với cơ trưởng và ông ta cũng đã xác nhận điều đó. Chúng tôi chỉ có ghế ngồi vé hạng nhất.
   Và trước khi người phụ nữ muốn nói điều gì đó, cô tiếp viên lại nói tiếp :
- Hãy nhìn xem, đó là điều khác thường của công ty chúng tôi, cho phép một hành khách từ hạng rẻ nhất đổi thành vé hạng nhất. Tuy nhiên, còn tùy trường hợp, chỉ huy nghĩ điều đó sẽ là một tai tiếng làm ảnh hưởng đến hành khách khi ngồi kế bên một người khó chịu.
    Cô tiếp viên quay sang người đàn ông da đen và nói :
 - Có nghĩa là, thưa ngài, nếu không phiền xin ông vui lòng mang túi xách của ông, chúng tôi đã dành riêng một chỗ ngồi hạng nhất cho ông…
     Tất cả hành khách gần đó, khi nhìn thấy cảnh tượng ấy ai cũng bất ngờ và có tiếng vỗ tay khen ngợi bắt đầu vang lên, một số người còn đứng dậy vỗ tay không ngừng

**********

TẠI QUẦY BÁN VÉ

   Vào một buổi chiều đầy nắng ở thành phố Oklahoma, tôi cùng một người bạn và 2 đứa con của anh đến 1 câu lạc bộ giải trí. Bạn tôi tiến đến quầy vé và hỏi:" Vé vào cửa là bao nhiêu? Bán cho tôi 4 vé."
Người bán vé trả lời:" 3 đô la một vé cho người lớn và trẻ em trên 6 tuổi. Trẻ em từ 6 tuổi trở xuống được miễn phí. Các cậu bé này bao nhiêu tuổi?"

" Đứa lớn 7 tuổi và đứa nhỏ lên 4", bạn tôi trả lời, "như vậy tôi phải trả cho ông 9 đô la tất cả."

   Người đàn ông ngạc nhiên nhìn bạn tôi và nói:" Lẽ ra ông đã tiết kiệm cho mình được 3 đô la. Ông có thể nói rằng đứa lớn chỉ mới 6 tuổi, tôi làm sao mà biết được sự khác biệt đó chứ!"

Bạn tôi từ tốn đáp lại: "Dĩ nhiên, tôi có thể nói như vậy và ông cũng sẽ không thể biết được. Nhưng bọn trẻ thì biết đấy. Tôi không muốn bán đi sự kính trọng của những đứa con và lòng trung thực của mình chỉ với 3 đô la."

Tiến HT st

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

PHIÊN CHỢ BA TƯ

"In a Persian market" - phiên chợ Ba Tư gợi nhớ những chuyện kể kỳ diệu của nàng Scheherazade thuở nào không chỉ có sức cuốn hút kỳ lạ với những em nhỏ, mà những người lớn cũng vô cùng yêu thích!








Bản nhạc: IN A PERSIAN MARKET (Phiên chợ Ba Tư)
Tác giả: Albert William Ketèlbey
*****



Trong những chương trình giới thiệu về các loại nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng cho các em thiếu nhi, “In a Persian market” (Phiên chợ Ba Tư) là một trong số những tác phẩm quen thuộc và luôn gây nhiều hứng thú.

Đây là một tác phẩm của nhà soạn nhạc kiêm nhạc trưởng, nghệ sĩ piano người Anh Albert William Ketèlbey (1875 – 1959).
Thực ra, Ketèlbey không phải là một tên tuổi lớn với tư cách một nhà soạn nhạc cổ điển. Trong lĩnh vực này, ông chỉ đạt được một vài ghi nhận nhỏ về mặt phê bình với số ít tác phẩm hợp xướng và thính phòng.
Ngoài những tác phẩm thời kỳ đầu mang phong cách cổ điển, phần lớn thời gian ông chuyên tâm vào kiểu nhạc nhẹ (Light Music) viết cho piano hoặc dàn nhạc. Tuy vâỵ, ông đã biết cách nâng nghệ thuật chinh phục vô số người nghiệp dư lên một đỉnh cao hiếm thấy.
Thành công lớn nhất của ông là những tác phẩm mang tính miêu tả. Đó là những tác phẩm thể hiện khả năng xuất sắc của Ketèlbey trong việc nắm bắt sắc thái bầu không khí xung quanh.

Các tác phẩm này rất phổ biến với dàn nhạc trên sân khấu và cả trong hình thức những bản nhạc in. Mặc dù thể loại âm nhạc này hiện giờ đã mai một nhưng vào thời đó, nó được đánh giá cao và đem lại danh tiếng lừng lẫy cho tác giả.
“In a Persian market”, được sáng tác năm 1920, là một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của Ketèlbey. Theo nhà phê bình Anh Ralph Hill, một người rất sành về âm nhạc Ba Tư, đây là tác phẩm về Ba Tư hay nhất được viết ra bên ngoài vùng đất này với một mối quan tâm lớn đến màu sắc phối khí.
Màu sắc phối khí phong phú là một đặc trưng lớn trong nhiều sáng tác của Ketèlbey. Có họa sĩ vẽ cover cho tác phẩm của ông đã hóm hỉnh mô tả chính nhà soạn nhạc như một phù thủy đang pha chế một hỗn hợp âm điệu trong một cái vạc lớn.
Ketèlbey đã pha màu và vẽ ra loạt 9 bức tranh liên hoàn miêu tả cảnh tượng một phiên chợ Ba Tư cổ xưa trong “In a Persian market”:
Cảnh 1: Những người đánh lạc đà đang tới chợ
Cảnh 2: Những kẻ hành khất đang cầu xin bố thí
Cảnh 3: Sự xuất hiện của nàng công chúa xinh đẹp
Cảnh 4: Những người làm trò tung hứng trong chợ
Cảnh 5: Những người làm trò dụ rắn trong chợ
Cảnh 6: Đức Kha-lip (vua Hồi giáo) đi qua chợ
Cảnh 7: Những kẻ hành khất lại lên tiếng cầu xin
Cảnh 8: Những người đánh lạc đà tiếp tục lên đường
Cảnh 9: Chợ trở nên vắng vẻ, hoang vu



Lắng nghe bản nhạc “In a Persian market”, chắc chắn bạn không thể không mỉm cười khi nhận ra mình đang lạc vào một thế giới cổ tích diệu kỳ.

Như thể bạn đang có mặt tại phiên chợ cổ xưa và tận mắt chứng kiến những cảnh tượng vô cùng sống động - những cảnh tượng mà có lẽ trước đây bạn đã từng hình dung khi nghe những câu chuyện cuốn hút mê hồn của nàng Scheherazade trong “Ngàn lẻ một đêm”.
Bản nhạc kết thúc cũng là lúc các em nhỏ vừa làm quen với rất nhiều nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng trên sân khấu. Có đủ 4 bộ: bộ dây, bộ gỗ, bộ đồng và bộ gõ.

Dù chỉ là một tác phẩm nhạc nhẹ viết cho dàn nhạc, nhưng tác dụng giáo dục âm nhạc của “In a Persian market” không kém gì so với những tác phẩm cổ điển có cùng mục đích như “Hướng dẫn về dàn nhạc cho người trẻ” của Benjamin Britten; “Hội giả trang của các con thú” của Camille Saint-Saëns; “Pechia và chó sói” của Sergei Prokofiev…
Còn các bạn độc giả, mời bạn dạo một vòng nữa qua chợ bằng cách mở lại “In a Persian market” một, hai và nhiều lần nữa. Nhưng nhớ là: đừng mải ngắm nhìn công chúa quá kẻo sẽ va phải chiếc giỏ của người dụ rắn đấy nhé!

Ngọc Anh

====

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Bún 'mắng', cháo 'chửi'... vẫn đắt khách

Bún 'mắng', cháo 'chửi', phở xếp hàng, bia hơi tem phiếu có vẻ không lạ lẫm với nhiều người sống ở Hà Nội. Khách hàng vẫn đến ăn nườm nượp, còn chủ nhân của nó vẫn làm ăn phát đạt...




Miếng ăn, miếng chửi

Ngồi quán bún ở 57 ngõ Ngô Sỹ Liên, nghe chủ quán mắng khách té tát vì những chuyện chẳng đâu vào đâu, tôi bỗng co rúm người lại, chỉnh đốn mọi hành vi, lời ăn tiếng nói để… không bị chửi mắng. Trưa nắng như thiêu đốt vậy mà quán vẫn chật cứng người. Bát bún ba chục nghìn mà có tới gần chục miếng thịt chân giò to tướng, rất đầy đặn.
“Cháu đã bảo đừng chan nước béo rồi mà!”- Cô bé ngồi cách tôi một bàn kêu lên như than phiền. “Nước dùng béo hay gầy về nhà mà ăn, đây chỉ có thế thôi. Không ăn thì biến cho rộng chỗ!”. Bà chủ quán vừa xóc bún vừa liếc xéo ra mắng khách. Ánh mắt và lời nói như những mũi tên bay phần phật về phía cô gái, làm tôi cũng rát mặt như bị ném cát. Cô bé ngồi cạnh tôi bị mắng nhưng không dám cãi, chỉ lẩm bẩm: “Ăn uống mất tiền mà cứ như đi ăn xin”.

Ngày hôm sau, lựa lúc vắng khách nhất, khoảng 17h, tôi lại mò đến quán bún mắng để hỏi chuyện bà chủ quán tên Thảo. “Cô ơi, người ta bảo quán của cô là quán bún chửi, nhưng cháu đã ăn ở đây mấy lần mà chẳng được chửi lần nào”. Được lời như cởi tấm lòng, bà Thảo trút bầu tâm sự: “Đấy, đấy…có phải ai tôi cũng mắng chửi đâu. Mình làm dâu trăm họ, muốn chiều khách lắm chứ. Như cậu đây thì tôi chửi thế nào được. Cậu gọi một bát móng giò, một chai bia, tôi chửi vào chỗ nào.
Tôi chửi vô lý, khách hàng nghiêm chỉnh người ta không đấm cho ấy à. Nhưng mà, có những người õng ẹo, hoạnh hoẹ đủ thứ cơ. Lúc đang đông khách mà cứ đòi hỏi cái này cái nọ, vào sau lại đòi ăn trước, bố đứa nào chịu được. Thế tôi chẳng chửi cho à.
Hôm nọ có hai con õng ẹo vào ăn, bảo vào trong nhà ngồi nhưng cứ đòi ngồi ra đường… Chắc là sợ mất xe! Tôi đuổi thẳng cổ: Không vào trong thì biến ngay! Hôm qua, cũng có hai đứa con gái, vào ăn bún lại đòi cho cháu hai cốc trà đá trước. Khách thì đông, chưa ăn đã đòi uống, tôi bảo: Thôi khỏi uống, khỏi ăn gì, mời hai cô ra cho tôi bán hàng!”.
Bà Thảo cho biết, bà đã bán bún ở chợ Ngô Sỹ Liên hơn ba chục năm nay, không biển hiệu. Ngày nào cũng mở cửa từ lúc 11h30 và đóng cửa lúc 19h30. Về chuyện thương hiệu “bún mắng”, bà Thảo bảo chẳng biết ai đặt cho nhưng bà không muốn cái tiếng ấy.
“Chửi mắng nó già người đi chứ. Nhưng mình làm thật ăn thật, bỏ sức lao động ra để kiếm chút lời, mình không luỵ ai cả. Mọi người vẫn bảo khách hàng là thượng đế, họ bỏ tiền ra thì phải được phục vụ đến tận răng, nhưng tôi thì khác, không bán cũng được, chứ không thể đáp ứng những yêu cầu quá đáng hoặc hoạnh họe ra vẻ ta đây… Cứ vớ vẩn đòi hỏi là tôi đuổi” - bà Thảo nói.
Ở quán phở phố Bát Đàn, cũng giống như bia “bao cấp” ở số 115 Quán Thánh, đều phải xếp hàng theo thứ tự và tự tìm chỗ ngồi, có điểm khác là bia bao cấp còn phải mua “phiếu dịch vụ” sau đó mới ra xếp hàng chờ lấy bia. Sáng đó, có vị khách lạ không biết lệ, cứ vắt chân chữ ngũ gọi lớn: “Cho 1 bát phở”. Sau cả chục phút chờ, không ai nói gì, ông khách bực mình gọi lại, liền bị quát ầm ĩ: “Ăn thì ra xếp hàng, tự bưng chứ ai hầu đến tận mồm!”.
Ông khách choáng quá, cứ ngồi thừ ra, chẳng nói được câu nào, mãi sau mới bẽn lẽn ra xếp hàng. Ăn xong, dù thừa nhận phở có ngon thật nhưng cũng đành thốt lên: “Từ nay tôi cạch đến già/Tôi chẳng dám đến hàng bà nữa đâu!”. Thế nhưng nhiều người vẫn nhẫn nại, thản nhiên cười hề hề khi xếp hàng, trả tiền trước để được nhận tô phở rồi tự tìm chỗ ngồi ăn.



Mắng chửi làm… thương hiệu

Bạn tôi tên N., một người rất tỉ mỉ trong ăn uống, tuần nào cũng mò lên quán phở Bát Đàn. Thường thì vào thứ bảy, nhưng cũng có tuần nổi cơn thèm N. phóng xe từ nhà ở phố Chùa Bộc lên Bát Đàn mất cả nửa tiếng đồng hồ, sẵn sàng chờ đợi vài chục phút nữa để hưởng cái hương vị của phở. N. bảo, xếp hàng thì có làm sao, tự bưng bê thì cũng có làm sao đâu? Mấu chốt là đồ ăn có ngon hay không! “Tớ sợ nhất là phục vụ chu đáo nhưng đồ ăn lại dở ẹc, tính tiền thì cắt cổ”.
Trên phố Nhà Thờ, quán cháo gà của bà M., cũng nổi tiếng với thương hiệu cháo “chửi”. Bà chủ này có thể chửi khách, chửi nhân viên từ sáng tới khuya. Chuyện kể rằng, có lần gặp vị khách Sài Gòn, vừa chê cháo nhạt, anh xin thêm chút muối, liền bị bà M. chửi cho te tua: “Mặn nhạt cái gì, cả trăm người có ai chê đâu. Không ăn thì biến”. Quá sốc, vị khách cầm cả tô cháo đổ xuống rãnh vỉa hẻ, rồi anh vứt trả cả tờ 50 ngàn đồng.
Quá bất ngờ, bà M. không nói thêm được lời nào. Nhưng sau lần ấy, bà M. vẫn không bỏ được tật chửi khách. Cho đến một lần bán đêm, gặp đúng nhóm thanh niên đi bụi, khách vừa xin thêm mấy cọng hành, liền bị bà M. chửi, cả nhóm thanh niên bỏ cháo, phá cả cửa hàng. Từ đó, người ta thấy bà M. ít chửi khách hơn. Bà chuyển sang chửi nhân viên ra rả cả ngày. Nhưng lạ, khách vẫn đến đông.
Người Việt mình luôn thích chen nhau chỗ chật thì phải. Một thói quen xếp hàng thời bao cấp còn lưu luyến chăng? Quán nào càng đông đúc người ta càng lao đến, càng chào mời thì lại… chạy xa. Nơi chủ quán vừa mắng chửi vừa bán hàng mà vẫn đông khách chứng tỏ đồ ăn thức uống phải ngon thì chủ quán mới dám cất lời mắng nhiếc thượng đế. Dường như, càng quát mắng, càng quen mồm quen miệng bỗng thành… tiếng lành đồn xa, khách ngày càng đến đông hơn.




(Theo Tiền phong)

Chủ Nhật, 19 tháng 12, 2010

LỄ GIÁNG SINH - CÂY THÔNG VÀ ÔNG GIÀ NÔ EN

Phạm Kim Thư


Lễ Giáng-Sinh là lễ kỷ-niệm ngày sinh-nhật của Chúa Jesus. Tuy lễ Giáng-Sinh là ngày lễ của những người theo đạo Thiên-Chúa, nhưng cứ đến ngày lễ này thì mọi người, bất cứ theo đạo nào, cũng được hưởng niềm vui tự-nhiên do không khí Giáng-Sinh mang lại.
Không phải chỉ những người tin theo đạo Thiên-Chúa mới đi lễ nhà thờ, chăng đèn kết hoa trước nhà, và trưng-bầy cây Nô-En (Noel) trong phòng khách mà mọi người dù theo bất-cứ đạo nào cũng tổ-chức ăn-mừng lễ Giáng-Sinh. Người người đều vui, cảm-thông, và hưởng trọn niềm ấm-cúng thanh-bình cùng yêu thương trong mùa Giáng-Sinh đầy hy-vọng vì Mùa Giáng-Sinh đã tạo cơ-hội giúp mọi người bỏ hết những hận-thù và ích-kỷ nhỏ-nhen nếu có mà họ không thể thực-hiện trước đó được.
Có rất nhiều người cảm-thông ý-nghĩa của mùa Giáng-Sinh một cách tự-nhiên mà không thắc-mắc hay băn-khoăn gì. Nhưng nếu tìm-hiểu thêm ý-nghĩa của Lễ Giáng-Sinh, Cây Nô-En, và Ông Già Nô-En, chúng ta sẽ thấy thú-vị vô cùng.






I. Lễ Giáng-Sinh
Tiếng Anh gọi Lễ Giáng-Sinh là Christmas, tiếng Anh cổ thời xưa gọi Lễ Giáng-Sinh là Cristes Maesse. Từ Cristes Maesse có nghĩa ngày lễ của Chúa (Christ’s Mass). Ngày Lễ Giáng-Sinh được tổ-chức vào 25 Tháng 12 dương-lịch để kỷ-niệm ngày sinh của Chúa Jesus Christ và được coi là ngày nghỉ lễ chính-thức của các nước có người theo đạo Thiên-Chúa.
Câu chuyện về ngày sinh của Chúa Jesus có tên bằng tiếng Anh là Nativity. Chúa Jesus do Đức Mẹ Đồng-Trinh tự-nhiên mang thai mà sinh ra. Sự thụ-thai này do quyền-lực thần-diệu của Thượng-Đế tạo ra trong khi bà Mary còn đồng-trinh. Chúa Jesus được sinh ra trong một chuồng ngựa (stable) tại Bethlehem và được đặt trong máng cỏ (manger) vì lúc đó trong nhà trọ (inn) không còn một phòng trống nào. Sau đó, Chúa Jesus được Đức Mẹ Mary và chồng của bà là Joseph nuôi-nấng tại Nazareth, một thành phố ở phía bắc Israel. Khi được 12 tuổi, Chúa Jesus đến giáo-đường ở Jerusalem và đã làm kinh-ngạc các giáo-sư về môn Mosaic Law với sự hiểu biết của ngài.
Khi lớn lên, Chúa Jesus chọn được 12 người Tông-Đồ cùng ngài đi khắp nơi ở Palistine để giảng đạo, chữa bệnh, và thực-hiện các phép-lạ. Một trong những phép-lạ đó là phép “Loaves and Fishes”(những ổ bánh mì và những con cá). Chuyện phép-lạ này được người ta truyền lại là khi Chúa Jesus thuyết-giảng ở một đám đông trong lúc họ rất đói, người ta chỉ tìm thấy 5 ổ bánh mì và 2 con cá. Thế mà nhờ Chúa Jesus làm phép trên 5 ổ bánh mì và 2 con cá này rồi ra-lệnh cho các đệ-tử của ngài phân-phát đồ ăn cho tất cả mọi người. Sau khi mọi người được phát đầy-đủ đồ ăn và ăn một cách no- nê, người ta thấy 12 chậu đồ ăn vẫn còn đầy.
Nhờ việc đi rao giảng lời của Thượng-Đế, ngài đã có rất nhiều tín-đồ và đồng-thời cũng có nhiều kẻ thù. Cuối cùng, Chúa Jesus bị tên Judas Iscariot phản-bội, bị Pontius Pilate – người lãnh-đạo dân Do-Thái lúc bấy giờ kết-án, và bị chính-quyền La-Mã đóng đinh trên thập-tự giá. Những người Thiên-Chúa giáo tin là ngài đã cải-tử hoàn-sinh và sự phục-sinh này đã cứu-vớt được bao linh-hồn.
Theo những tài-liệu liên-quan tới ngày sinh-nhật của Chúa Jesus, người ta thấy Chúa Jesus không phải sinh vào ngày 25 tháng 12 mà có thể vào tháng 4 hay tháng 5 và có lẽ trước đó 3 năm, tức là cách đây (2007) là 2010 năm. Dương lịch được tính theo năm đầu-tiên sau khi Chúa sinh ra đời. Theo niên-giám La-Mã, Lễ Giáng-Sinh đầu-tiên được tổ-chức ở La-Mã vào năm 336 Tây-Lịch Kỷ-Nguyên. Tuy-nhiên, ở miền đông đế-quốc La-Mã, một buổi lễ được tổ-chức vào ngày 6 tháng giêng để kỷ-niệm chung cho ngày sinh-nhật và ngày rửa-tội của Chúa Jesus. Cũng vào ngày 6 tháng giêng này ở Jerusalem thuộc Do-Thái (Israel) người ta chỉ tổ-chức lễ kỷ-niệm ngày sinh-nhật của Chúa mà thôi.
Mãi vào thế kỷ thứ IV, hầu-hết các nhà thờ ở miền đông đế-quốc La-Mã mới chấp-nhận tổ- chức sinh-nhật Chúa Jesus Christ vào ngày 25 tháng 12. Trong lúc ấy ở Jerusalem, người ta vẫn chống-đối việc tổ-chức Lễ Giáng-Sinh. Nhưng về sau này, Lễ Giáng-Sinh lại được chấp-nhận ở Jerusalem. Các nhà thờ ở nước Armenia, một nước ở Tây-Á, đã không chấp-nhận Lễ Giáng-Sinh. Họ tổ-chức ngày sinh-nhật của Chúa vào 6 tháng giêng. Sau khi Lễ Giáng-Sinh, 25 tháng 12, được thiết- lập ở miền đông đế-quốc La-Mã, ngày kỷ-niệm lễ rửa-tội của Chúa được tổ-chức vào 6 tháng giêng, ngày mà ba vị thông-thái (Magus) từ miền đông đế-quốc La-Mã đến Bethlehem để chiêm-ngưỡng Chúa Hài-Đồng.
Những tục-lệ cổ-truyền về Lễ Giáng-Sinh bắt nguồn từ sự trùng-hợp ngày sinh của Chúa với những ngày lễ kỷ-niệm về nông-tang và mặt trời vào mùa đông (Winter Solstice) của những người không theo đạo Thiên-Chúa.
Ở La-Mã, ngày 17 tháng 12 là ngày lễ Saturnalia để kỷ-niệm thần Saturn. Đây là thời-gian ăn chơi tưng-bừng nhất và là dịp để mọi người trao-đổi quà kỷ-niệm. Ngày 25 tháng 12 cũng được coi là ngày sinh-nhật của Thần Mithra, Thần Toàn-Chân Thái-Dương, thuộc xứ Ba-Tư. Năm mới của người La-Mã là ngày 1 tháng giêng dương-lịch. Vào những dịp này người ta trang-hoàng nhà cửa bằng cây lá xanh tươi và hoa đèn rực-rỡ. Trẻ con và người nghèo được trao quà tặng.
Lửa, đèn, và nến là vật tượng-trưng của sự ấm-cúng và sự sống, nó luôn-luôn liên-hệ với các lễ-lạc vào mùa đông của cả những người theo đạo Thiên-Chúa và các đạo khác. Từ thời trung-cổ, cây thông, một loại cây vạn-niên-thanh, là biểu-hiệu cho sự sống và luôn-luôn liên-hệ với Lễ Giáng-Sinh.


II. Cây Nô-En

Tiếng Nô-En mà người Việt ta thường dùng bắt nguồn từ chữ Pháp là “Noel” và có nghĩa là Giáng-Sinh. Cây Nô-En có tên bằng tiếng Anh là Christmas Tree. Cây Nô-En thường là cây thông nhân-tạo làm bằng ni-lông (nylon) hay là cây thông thật được chặt ở rừng đem về nhà. Người ta trang- trí cây thông này bằng dây đèn đủ màu cùng với các đồ trang-hoàng khác như giấy bạch-kim để giả làm tuyết-phủ, kẹo xanh trắng đỏ có hình cây gậy ba-toong (candy canes), các gói quà giả, các quả bóng nhỏ đủ màu làm bằng thủy-tinh, hình thiên-thần, và cây thánh-giá, v.v. Cây thông sau khi được trang-hoàng như thế có tên là cây Nô-En. Dưới chân cây Nô-En người ta có các gói quà do những người trong gia-đình mua để tặng cho nhau. Cây Nô-En là một thứ không thể thiếu được trong mùa Giáng-Sinh.
Việc dùng cành thông và vòng hoa kết bằng lá xanh (wreath) treo ở mặt ngoài cánh cửa nhà để biểu-lộ sự ước-mong vĩnh-cửu cho đời sống con người là cổ-tục của người Ai-Cập (Egyptian), Trung-Hoa, và Do-Thái. Việc tôn-thờ cây thông và vòng hoa rất được thông-dụng ở Châu-Âu đối với người không theo đạo Thiên-Chúa. Tục-lệ này vẫn còn tồn-tại sau khi họ nhập-đạo Thiên-Chúa.
Người ở các nước Thụy-Điển, Đan-Mạch, và Na-Uy, gọi chung là người Scandinavian, thường trang-hoàng nhà-cửa và vựa lúa với các loại cây vạn-niên-thanh vào dịp năm mới để xua đuổi ma-quỉ. Họ còn dựng cây cho chim trú ngụ trong mùa Giáng-Sinh. Phong-tục này còn có ở Đức. Người ta đặt cây Nô-En ngay ở lối ra vào hay ở trong nhà vào những ngày nghỉ lễ giữa mùa đông.
Cây Nô-En hiện-đại ngày nay có được là do phong-tục của Tây-Đức. Cái khung-cảnh chính của vở kịch nổi tiếng hồi trung-cổ về sự-tích Ông Adam và Bà Eve là một cây thông có treo những quả táo gọi là Cây Thiên-Đàng tượng-trưng cho Vườn Địa-Đàng (Garden of Eden). Người Đức dựng Cây Thiên-Đàng (Paradise Tree) trong nhà vào ngày 24 tháng 12, ngày hội tôn-giáo, để kỷ-niệm Ông Adam và Bà Eve. Người ta treo những miếng bánh bít-qui (biscuit) gọi là wafers trên Cây Thiên-Đàng tượng-trưng cho dấu-hiệu của Chúa Jesus đứng ra chuộc tội cho nhân-loại. Sau này người ta thay thế bánh Wafers bằng bánh cúc-ki (cookie) có đủ hình-dáng khác nhau. Cả những cây đèn-cầy hay nến cũng được dùng làm biểu-tượng của Chúa đứng ra chuộc tội cho nhân-loại.Trong cùng một phòng có trưng-bày cây Nô-En vào mùa Giáng-Sinh, người ta còn dựng một Kim-Tự-Tháp Giáng-Sinh (Christmas Pyramid). Đây là một cấu-trúc bằng gỗ hình tam-giác với các kệ để đồ (shelves). Bên trên các kệ này có bày các pho-tượng nhỏ và trang-trí bằng cây vạn-niên-thanh, đèn cầy, và một ngôi sao. Vào khoảng thế-kỷ thứ 16 thì Christmas Pyramid và Paradise Tree được kết-hợp lại thành cây Nô-En (Chistmas Tree). Phong-tục này đã được thịnh-hành trong giáo-phái Tân-Giáo của Luther ở Đức vào thế-kỷ thứ 18. Nhưng mãi tới một thế-kỷ sau đó, cây Nô-En mới ăn rễ sâu vào truyền-thống của người Đức.Cây Nô-En được du-nhập vào đất Anh từ đầu thế-kỷ thứ 19 và rất được thịnh-hành vào giữa thế-kỷ đó. Sở-dĩ được như vậy là nhờ công của Hoàng-Tử Albert, chồng Nữ-Hoàng Victoria. Ở Anh, vào thời đó, người ta gọi cây Nô-En là Victorian Tree. Cây Victorian Tree được trang-trí bằng đèn cầy, kẹo, cùng các thứ bánh đặc-biệt treo ở cành cây bằng dây băng (ribbon) hay dây giấy đủ màu.Phong-tục trưng-bầy cây Nô-En vào dịp Giáng-Sinh đã được những người di-dân gốc Đức mang vào Bắc-Mỹ từ đầu thế-kỷ thứ 17. Sau đó cây Nô-En được thịnh-hành nhất vào thế kỷ thứ 19. Cây Nô-En còn thịnh-hành ở Austria, Switzerland, Poland, và Holland trong giai-đoạn này. Ở Trung- Hoa, Nhật-Bản, và Việt-Nam, phong-tục trưng-bày cây Nô-En là do các nhà truyền-giáo Âu-Tây mang vào từ thế-kỷ thứ 19 và 20.



III. Ông Già Nô-En

Từ thủa bắt-đầu, Ông Già Nô-En có tên là “Saint Nicholas.” Theo truyền-thuyết thì Ông Già Nô-En Nicholas có lẽ là một vị Giám-Mục người Hy-Lạp ở vào thế-kỷ thứ 4. Nicholas được nổi-tiếng về lòng tốt của ông. Tuy-nhiên các nhà sử-học không thể chính xác sự-kiện về đời sống cũng như sự hiện-hữu của ông. Trong tiếng Anh, Ông Già Nô-En có tên là “Santa Claus.” Tiếng “Santa Clause” được dịch từ tiếng Đức “Sinter Klaes.” Trong tiếng Pháp, Ông Già Nô-En có tên là “Le Père Noel.”
Truyện thần-thoại về Ông Già Nô-En kể rằng Santa Claus tặng quà một cách bí-mật cho những người gặp cảnh khó-khăn. Ngoài-ra, Ông Già Nô-En còn có những tên như Nicholas of Bari và Nicholas of Myra. Theo tục-truyền, Ông Già Nô-En được sinh-ra ở hải-cảng cổ Lycia của thành-phố Patara thuộc Tiểu-Á Tế-Á (Asia Minor). Khi còn trẻ, Ông Già Nô-En đi du-lịch đến Palestine và Egypt. Ông trở thành Giám-Mục của thành phố Myra, Lycia, thuộc Tiểu-Á Tế-Á. Ông bị tù trong vụ hành-hạ những người Thiên-Chúa-Giáo thuộc triều-đại Hoàng-Đế La-Mã Diocletian. Sau đó, ông được thả ra vào triều-đại vua Constantine Đại-Đế (Thế-Kỷ Thứ 4) và tham-dự Hội-Đồng Lần Thứ Nhất của Nicaea, Council of Nicaea, vào năm 325 dương-lịch. Nicaea là một thành-phố của Bithynia thuộc Asia Minor. Hội-Đồng Council of Nicaea có mục-đích xác-nhận lòng tin vào Thiên-Chúa và kết-tội chủ-thuyết Arianism, một chủ-thuyết chối bỏ Chúa Jesus.
Vào thế-kỷ thứ 6, lăng-tẩm của ông Già Nô-En rất nổi-tiếng ở Myra thuộc Tiểu-Á Tế-Á. Vào năm 1087, những người thủy-thủ và lái-buôn Ý đã cải-táng ngôi mộ của ông và mang di-hài ông về Bari, nước Ý. Sự cải-táng này đã là một sự-kiện lịch-sử và được người ta làm lễ kỷ-niệm hằng năm vào ngày 9 tháng 5 dương-lịch. Từ đó tiếng-tăm của ông được truyền đi khắp nơi và Bari đã trở nên một trung-tâm hành-hương đông-đảo nhất. Lăng-tẩm của ông được đặt tại Đại Giáo-Đường thuộc South Nicala, Bari, Ý .
Truyền-thuyết về Ông Già Nô-En càng ngày càng nhiều. Chuyện đầu-tiên được kể về một phép-lạ rất nổi-tiếng là khi ba vị sĩ-quan bị kết-án tử-hình rồi lại được tha sau khi Vua Constantine Đại-Đế nằm mơ thấy Nicholas. Kế đến là những chuyện người ta kể là Ông Già Nô-En đã từng cứu những trẻ em khỏi bao thảm-họa. Lòng ngưỡng-mộ đối với Ông Già Nô-En la truyền ra khắp thế- giới. Tên của ông được dùng để đặt tên cho rất nhiều nơi ở các nước. Tên họ của nhiều người cũng bắt nguồn từ tên Nicholas như: Nichols, Nicholson, Colson, và Collins.
Ông Già Nô-En đã được chọn làm vị thánh hộ-mệnh của nước Nga, Hy-Lạp, các hội từ- thiện, các công-đoàn, các trẻ em cùng thủy-thủ đã được cứu vớt lên khỏi bờ biển Lycia, và các thành- phố như Fribourg, Switz, và Moscow. Đã có hàng ngàn nhà thờ ở Châu-Âu được xây lên để thờ Ông Già Nô-En, trong đó có một nhà thờ do Hoàng-Đế La-Mã Justinian Đệ-Nhất xây vào thế-kỷ thứ 6 ở đô-thị cổ Constantinople, bây giờ là Istanbul, một thành-phố lớn nhất của Turkey (Thổ-Nhĩ-Kỳ).
Các phép-lạ của Ông Già Nô-En đã là đề-tài ưa-thích cho nhiều nghệ-sĩ thời trung-cổ. Ngày hội truyền-thống về Ông Già Nô-En trở thành cơ-hội cho các nghi-lễ của Boy Bishop, một phong-tục phổ-biến của người Âu trong đó một cậu con trai được chọn làm vị Giám-Mục và ở tại chức cho tới ngày Holy Innocents’ Day, tức ngày 28 tháng 12 dương-lịch.Sự biến-đổi Nicholas thành Đức Cha của Lễ Giáng-Sinh (Father Christmas) hay Đức Cha của tháng giêng (Father January) đã xảy-ra lần đầu-tiên ở Đức, rồi đến các quốc-gia trong đó có Reformed Churches chiếm đa-số. Tiếp đến là ở Pháp, ngày hội Ông Già Nô-En được tổ-chức vào dịp Giáng-Sinh và Năm Mới. Những di-dân người Hòa-Lan theo đạo Tin-Lành ở thành-phố New Amsterdam, bây giờ là thành-phố New York City, đã gọi Nicholas là Nhà Ảo-Thuật Nhân-Đạo và sau trở thành Ông Già Nô-En, tức Santa Claus.
Ở Hoa-Kỳ và Anh-Quốc, Nicholas là thánh hộ-mệnh của mùa Giáng-Sinh. Theo truyền- thống, Giáng-Sinh là ngày hội của gia-đình và của trẻ con. Người ta trao-đổi quà tặng với nhau trong dịp này. Từ năm 1969, ngày hội Ông Già Nô-En không còn được ghi lên lịch, nhưng việc tổ-chức kỷ- niệm Ông Già Nô-En thì được tùy-nghi tổ-chức theo mỗi nơi.Ngày nay tục-lệ rước Ông Già Nô-En rất thịnh-hành. Tùy theo từng địa-phương, người ta tổ- chức cuộc rước Ông Già Nô-En (Santa Claus Parade) theo các ngày khác nhau ở mỗi thành-phố, thường là vào từ trung-tuần tháng 11 trở đi cho đến giữa tháng 12 dương-lịch. Trong cuộc diễn-hành Ông Già Nô-En này, người ta làm những xe hoa thể-hiện đặc-tính của từng hội-đoàn hay các cơ-sở thương-mại và cũng thể-hiện ý-nghĩa của mùa Giáng-Sinh. Ngoài ra, người ta còn có các ban nhạc diễn-hành đi theo đám rước này để tấu lên các bài hát Giáng-Sinh. Mặc dầu thời-tiết lạnh và tuyết phủ đầy khắp không-gian mà mọi người vẫn tham-dự cuộc vui một cách tưng-bừng và náo-nhiệt.
Ở mỗi nhà vào dịp Giáng-Sinh người ta còn mua những đôi tất (pair of socks) đỏ treo bên cạnh lò sưởi ngay chỗ ống khói. Họ tin là vào đêm Nô-En, Ông Già Nô-En sẽ cưỡi xe trượt tuyết do bầy hươu có cánh kéo từ trên trời xuống trần-gian để cho ông đem túi quà vào thăm mỗi nhà qua lỗ ống khói và bí-mật bỏ quà vào mỗi chiếc vớ cho trẻ con. Người ta tưởng-tượng ra Ông Già Nô-En với hình-dáng của một ông già béo mập, vui-vẻ, có râu bạc trắng, mặc quần áo màu đỏ, và mang túi quà phát cho trẻ con vào đêm trước ngày Lễ Giáng-Sinh (Christmas Eve).


ThuNV(10H) st