Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhớ về Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhớ về Hà Nội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 10, 2013

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2013

Quả sấu non trên cao

Tác giả: Xuân Diệu



Chót trên cành cao vót
Mấy quả sấu con con
Như mấy chiếc khuy lục
Trên áo trời xanh non.


Trời rộng lớn muôn trùng
Đóng khung vào cửa sổ
Làm mấy quả sấu tơ
Càng nhỏ xinh hơn nữa

.
Trái con chưa đủ nặng
Để đeo oằn nhánh cong.
Nhánh hãy giơ lên thẳng
Trông ngây thơ lạ lùng.


Cứ như thế trên trời
Giữa vô biên sang nắng
Mấy chú quả sâu non
Dỡn cả cùng mây trắng


Mấy hôm trước còn hoa
Mới thơm đây ngào ngạt,
Thoáng như một nghi ngờ.
Trái đã liền có thật.


Ôi! từ không đến có
Xảy ra như thế nào?
Nay má hây hây gió
Trên lá xanh rào rào.


Một ngày một lớn hơn
Nấn từng vòng nhựa một
Một sắc nhựa chua giòn
Ôm đọng tròn quanh hột...


Trái con như thách thức
Trăm thứ giặc, thứ sâu,
Thách kẻ thù sự sống
Phá đời không dễ đâu!


Chao! cái quả sâu non
Chưa ăn mà đã giòn,
Nó lớn như trời vậy,
Và sẽ thành ngọt ngon.


MTT st

Thứ Hai, 14 tháng 11, 2011

CHÙM THƠ VỀ HÀ NỘI

Hà Nôi mùa này



Hà nội mùa này đẹp lắm đó anh
Trời thì trong nắng thì vàng như mật
Những cánh lá trên cành cao lất phất
Cứ dịu dàng đùa với gió heo may

Hương cốm đầu mùa còn chưa kịp bay
Cơn bão xa lúa làm đòng hơi muộn
Sen Hồ Tây năm nay đang bịn rịn
Chưa chịu tàn chờ mẻ cốm đầu tiên

Cúc Ngọc Hà vẫn chưa ửng mầu lên
Những nụ vàng e ấp sau đám lá
Hình như vẫn luyến lưu dáng hạ
Níu nồng nàn ẩn hiện lại mùa xưa

Cội sấu già quả chín vàng đung đưa
Vị chua chua chuyển sang hơi ngọt ngọt
Có điều chi trong giao mùa thảng thốt
Để ngày thu xao xác gọi hồn thu

Anh về thăm Hà Nội chiều sương mù
Giữa hư ảo của ngàn xưa cổ kính
Vẫn khắc khoải nhẩm theo từng tờ lịch
Ngày chia xa... lòng nhắc nhớ ngàn năm...

04/09/2010
Thu Phong




Hà nội trong tôi



Hà nội trong tôi có tự bao giờ
Mỗi xuân về sắc hoa tràn trên phố
Phan Đình Phùng mùa sưa mong manh quá
Hai buổi đi về tà áo trắng vấn vương

Hà nội trong tôi rất đỗi thân thương
Từng hàng cây, con đường thu lá đổ
Cái nắm tay chiều nào còn bỡ ngỡ
Nụ hôn đầu Vườn Bách thảo...nắng say

Những nỗi buồn vẫn vương trên mi cay
Ngày chiến tranh nồi cơm độn khoai sắn
Manh áo rách mái lá thủng quên dặm
Trẻ về quê, mẹ trực chiến ngày đêm

Hà nội trong tôi là nỗi nhớ vừa nhen
Khi bè bạn, người thân ra mặt trận
Một mai về biết ai còn ai mất
Bịn rịn lời, lo bom đạn sểnh tay...

Hà Nội vẫn đây se sắt heo may
Và yêu thương vẫn đong đầy ngày tháng
Khi sối nổi và cả khúc thầm lặng
Ta cùng chia tất cả cho ngày mai
...

05/04/2010
Thu Phong

Chủ Nhật, 9 tháng 10, 2011

Nhớ mùa thu Hà Nội, gửi tặng các bạn K22

Chuyện ít người biết về Tháp Rùa Hồ Gươm





Cập nhật 09/10/2011 06:53 (GMT+7)



Khi nói đến Tháp Rùa, thường ai cũng lơ mơ biết đến chuyện xưa, có một người nào đó định xây mộ cho cha mẹ mình, mới đứng ra xây Tháp Rùa, nhưng không được, thành ra hình bóng của Tháp Rùa chỉ là một câu chuyện dở dang.










Nhưng thực ra, cố nhân Nguyễn Hữu Kim (1832 – 1901), với chức danh Bá Hộ xưa cũng chỉ tương đương với trưởng phường hiện nay; đã nổi tiếng vì dám đứng ra tổ chức chôn cất cho cụ Hoàng Diệu, quan Tổng đốc tuẫn tiết vì thất bại, trong thời kỳ kháng Pháp đầu tiên (1882). Lúc đó, một số quan lại cao cấp kế cận Hoàng Diệu, đều bỏ trốn hoặc đầu hàng, làm tay sai cho Pháp. Không ai dám đứng ra mai táng cho cụ Hoàng Diệu. Trong khi đó ông Kim đã cùng dân góp tiền mua áo quan, làm lễ đưa mộ cụ Hoàng Diệu về gần miếu Trung Liệt, rồi sau di ra dinh quan Đốc học. Việc làm này chứng tỏ ông Kim, một thương nhân giầu có, đã thể hiện lòng dũng cảm và thương xót một người anh hùng đã hy sinh anh dũng vì đất nước.


Mặc dù có thời, ông Kim còn được phong là Tri phủ Thường Tín, rồi thương biện phủ Hoài Đức, nhưng lại bị Pháp nghi kỵ, cách chức và quản thúc, chỉ vì có cô con gái lại tham gia phong trào chống Pháp. Người con gái của ông tên là Khuê, sau này trở thành nguyên mẫu trong tiểu thuyết “Bóng nước Hồ Gươm” của Chu Thiên, một cuốn sách mô tả phong trào chống giặc Pháp xâm lược hết sức quyết liệt của người Hà Nội. Thêm nữa, cháu nội của ông là liệt sĩ Nguyễn Ngọc Vũ (1908 – 1932), từng là Bí thư Thành uỷ chính thức đầu tiên của đảng bộ Hà Nội ( đảng Cộng sản Đông Dương lúc đó) và đã hy sinh trong Hoả Lò, năm 1932.


Có lần bác sĩ Nguyễn Thìn, một bác sĩ đầu ngành sản khoa viện C Hà Nội, cháu năm đời của ông Kim đã cho xem gia phả, càng thấy rõ 5 người con trai và 3 con gái của ông Kim đều được giáo dục và trưởng thành, trong một gia đình có nền nếp, luôn hướng tới làm những việc thiện, vì dân vì nước. Vậy nên việc xây Tháp Rùa của ông Kim, khi ấy với ý nghĩa “hậu chẩm” cho chùa Báo Ân xưa, ở vị trí nhà Bưu điện trung tâm ngày nay, cũng có cái lý nhất định. Nhưng dù sao, ông cũng là người đã xây nên ngôi tháp này trên đảo rùa, với bốn tầng, mang dấu ấn như một sự hoà trộn giữa hai màu sắc kiến trúc, phương Tây và Á đông, cũng là một sự lạ vào thời đoạn 1884-1887. Tên ông luôn được gắn với những câu chuyện về Tháp Rùa và được mọi người nhớ đến, như thành tựu của một doanh nghiệp, đối với Hà Nội cũng bởi lẽ đó.


Dấu tích còn lại về ông hiện còn được lưu giữ tại số nhà 29 phố Hai Bà Trưng, là dinh cơ cũ và là nhà thờ đại tôn của họ Nguyễn, theo gia phả năm đời thuộc gia đình ông.


Tuy vậy, có thể nói ngày đó Tháp Rùa quả là một công trình có ý nghĩa công đức cho cộng đồng và trở thành một cái tên sớm được nhắc đến cho bất cứ ai lần đầu tiên đến Hà Nội. Xưa các tao nhân mặc khách đã hoạ thơ:


"Hồ Gươm soi bóng Tháp Rùa

Ánh đèn soi tỏ mái chùa Ngọc Sơn

Đài nghiên, Tháp Bút chưa mòn…”

Lẽ dĩ nhiên từ đó Tháp Rùa gắn bó với đền Ngọc Sơn tạo nên cảnh quan hài hoà, và trở thành điểm nhấn cho Hồ Gươm.


Nghe nói, trước đây có một con đường nhỏ đi bộ từ bờ hồ ra đảo Rùa được, vì xưa nơi này từng là nơi câu cá giải trí của vua quan triều Lê. Có người tò mò rằng, ai là người thiết kế một kiểu kiến trúc “tân cổ giao duyên” như vậy, bản vẽ gốc giờ ở đâu, hay chỉ là ông Kim tự nghĩ ra rồi thuê thợ làm theo ý mình. Bởi lẽ hai tầng dưới làm theo kiểu Tây, còn hai tầng trên lại theo phong vị của đền chùa cổ Việt. Chả thế thời đó, ngay trên một số báo Pháp còn gọi Tháp Rùa là ngôi đền nhỏ, hay chỉ là chùa được xây trên nền một ngôi đền nhỏ trước đó. Bởi nó chỉ cao 8,8m, với diện tích khoảng 28,51m2, chiếm tỉ lệ khiêm tốn trên gần một sào diện tích đảo Rùa. Chính vì lẽ đó, với độ cao chỉ vừa đủ làm một bệ tượng mà có chuyện một kỹ sư người Pháp là Daurelle quyết định Tháp Rùa phải đội bức tượng Thần tự do Mỹ?.


Đó là chuyện có thật. Nhưng nói chính xác chỉ là một phiên bản nhỏ, mẫu của tượng thần tự do, trước khi người Pháp xây tặng cho nước Mỹ. Đây là phiên bản thứ hai, tượng Thần tự do bằng đồng, cao 2,85 m được Pháp đem sang Việt Nam trưng bày trong một cuộc triển lãm, tại Hội chợ Đấu Xảo, (nay là Cung Văn hoá Hữu nghị Việt Xô), năm 1887. Sau đó tượng được tặng lại cho Hà Nội và được đặt ở vườn hoa Chí Linh. Nhưng đến năm 1890, Chính phủ Bảo hộ muốn lấy chỗ đó đặt tượng Pôn Be, Thống sứ đầu tiên bị chết tại Hà Nội, trước đó mấy năm, nên tượng Thần tự do được dinh ra đặt trên nóc Tháp Rùa, mặt quay về phía vườn hoa Chí Linh. Theo một tài liệu, qua báo chí thời đó, thì Tháp Rùa phải đội tượng Thần tự do này trong 6 năm, từ 1891 đến 1896.


Rồi không hiểu vì lý do gì mà tượng Thần tự do được chuyển về đặt ở vườn hoa Cửa Nam. Đến trước thời kỳ Cách mạng tháng 8 nổ ra pho tượng này đã bị giật đổ cùng với một số tượng khác ở Hà Nội, theo lệnh ký ngày 31-7-1945 của Thị trưởng Hà Nội Trần Văn Lai lúc đó. Nhưng thật khó ngờ vì một biểu tượng nổi tiếng của nước Mỹ, một công trình nghệ thuật tuyệt đẹp lại có một phiên bản duy nhất được trưng bày ở nước ta trong một thời gian dài chừng hơn nửa thế kỷ. Đến nay số phận bức tượng đồng Thần tự do đó ra sao cũng không còn dấu tích nữa.


Từ lâu hình ảnh Hồ Gươm và Tháp Rùa được soi bóng trong văn, thơ, hoạ nhạc, như một biểu tượng lung linh cho Hà Nội. Tháp Rùa sống với tâm trí cộng đồng, gắn bó về tình cảm, như một sự chia sẻ hay bầy tỏ thân thiết với những người con thủ đô. Thật khó ai có thể quên hình ảnh Tháp Rùa trong tranh Phố của cố danh hoạ Bùi Xuân phái, với tà áo dài bên Hồ Gươm, xa xa nghiêng bóng Tháp Rùa, trong nắng sớm. Và, ai cũng có thể nhớ đến bản tráng ca “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi, hoặc “Nhớ Về Hà Nội” của Hoàng Hiệp, cũng như “Gửi người em gái miền Nam” của Đoàn Chuẩn-Từ Linh… Tất cả đều gắn bó với hình ảnh Tháp Rùa, với những câu ca giầu cảm xúc như: “Chạnh lòng tôi nhớ tới người em. Em tháp Rùa yêu dấu…” hay “Hà Nôi đẹp sao! Ôi nước Hồ Gươm xanh thắm lòng. Bóng Tháp Rùa thân mật ấm lòng…” và “Ôi! Nhớ Hồ Gươm xanh thắm. Nơi Tháp Rùa nghiêng soi bóng…”


Chuyện quanh tháp Rùa ngỡ như chỉ gắn liền với huyền thoại hay những lời bàn mang yêu tố tâm linh làm tăng màu sắc của rêu phong một thuở. Nhưng ít ai ngờ, trong sử sách về cách mạng của thủ đô ngàn năm văn hiến, còn ghi lại câu chuyện xảy ra vào đúng ngày sinh nhật Bác Hồ ngày nào. Có thể coi đây là một câu chuyện mới nhất, về lá cờ của một chiến sĩ đã bí mật treo trên đỉnh Tháp Rùa, ngay trong lòng địch, đúng vào ngày sinh nhật Bác Hồ, 19-5-1948. Chuyện xảy ra hơn 60 năm, nhưng người thanh niên quả cảm, một chiến sĩ công an đã hy sinh anh dũng đến nay mới được xác nhận là liệt sĩ, quả là một thiệt thòi không nhỏ.


…Sáng hôm đó, chiến sĩ Nguyễn Trọng Quang, mới 18 tuổi đã cùng đồng đội bơi ra Tháp Rùa để treo là cờ đỏ sao vàng lên đỉnh cao nhất. Sự kiện này làm chấn động đời sống người dân Hà Nội. Từ ngày giặc Pháp chiếm Hà Nội, đây là sự kiện đầu tiên, lá cờ cách mạng tung bay làm náo nức lòng người, như một bằng chứng hùng hồn về sự hiện diện của cách mạng ở ngay giữa lòng địch, thể hiện tinh thần quật khởi của người dân thủ đô, làm kẻ địch hoảng loạn.


Sau đó ít ngày chiến sĩ Quang bị địch bắt giam tại Hoả Lò. Tại đây, anh đã vẽ lá cờ đỏ sao vàng và viết khẩu hiệu “Hồ Chủ Tịch muôn năm” lên tường. Ông Đông, người bị bắt cùng với anh Quang kể thêm, ngay hôm sau bọn giặc bắt tất cả đi tra tấn và tìm cho ra người vẽ. Lúc đó, anh Quang đã khảng khái đứng ra nhận và bị chúng đưa đi biệt giam với tội danh đặc biệt nguy hiểm. Đến ngày 12-6 năm đó, chiến sĩ Nguyễn Trọng Quang đã bị chúng bắn chết…


Chiến công của liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang đã được xác nhận, nhưng thật khó khăn, khi đồng đội không biết địa chỉ gia đình ở đâu để làm thủ tục công nhận liệt sĩ. Sau này, với sự giúp đỡ của phóng viên báo Công An Nhân Dân cúng các đồng đội cũ của liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang đã tìm được thân nhân của gia đình ông ở 12 Bát Đàn, Hà Nội.


Vậy là, sáng 10-4-2009, sau 61 năm, bằng Tổ quốc ghi công mới được trao cho gia đình liệt sĩ Nguyễn Trọng Quang. Có thể nói đây là câu chuyện duy nhất có ý nghĩa, gắn với Tháp Rùa trong câu chuyện trăm năm, soi bóng trên truyền thuyết lịch sử hoàn kiếm của vua Lê.


Trở lại với hiện thực khi hơn trăm năm trôi qua, giờ đây Tháp Rùa đã trở thành một biểu tượng trong lòng người với nhiều cảm xúc thân thương. Nhưng thật ra gọi Tháp Rùa là di tích loại gì cũng khó xác định, cả về hai khía cạnh lịch sử và văn hoá, mặc dù nó đã là một địa chỉ trong khuôn viên du lịch thủ đô. Nhìn tổng thể, tháp lại là một công trình kiến trúc xấu, lai tạp, vậy thiết nghĩ, có thể cải tạo, nâng cấp cho đẹp hơn, giống như nhiều di tích đã từng làm.


Vả lại trên thực tế, Tháp Rùa cũng đã từng vài ba lần, dỡ nóc để đặt tượng, trong 6 năm trời, hoặc tróc vỏ, trát vữa, quét vôi đến trơ trụi như hiện nay. Hơn nữa cái chuyện những người thợ xây đã bí mật ném hài cốt của song thân ông Bá Kim ngày xưa cũng chỉ là truyền miệng, không thể kiểm chứng. Biết đâu mọi chuyện ngược lại. Vậy việc thiết kế, làm lại móng, nâng cấp cho Tháp Rùa xứng đáng là một kiến trúc có giá trị văn hoá và bền vững, của thủ đô thiết nghĩ cũng là chuyện cần thiết..


Vương Tâm





TH st.

Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2011

Nhân ngày 20 tháng 10 sắp đến chúc các cô và các bạn nữ K22 vui khỏe, đẹp mãi và may mắn

DỊU DÀNG, THANH LỊCH NGƯỜI CON GÁI HÀ NỘI



(Sóng Trẻ) - Con gái Hà Nội đẹp trong cái đẹp chung của phụ nữ Việt Nam, nhưng là một cái đẹp không lẫn vào đâu. Nếu người Tràng An thanh lịch như thể hoa nhài, thì người phụ nữ Hà thành chính là sắc, là hương của hoa.


Chẳng biết tự bao giờ, người con gái Hà Nội đã mang trong mình nét đẹp riêng vốn có ấy. Nếu như con gái Tây Bắc chất phác, hồn nhiên; con gái Huế đằm thắm, trữ tình; con gái Sài Gòn rắn rỏi, vui tươi; con gái miền Tây lam lũ, chịu khó…thì con gái Hà Nội lại dịu dàng, nết na, thùy mị.
Nhà văn Băng Sơn đã từng viết: “Cứ dăm năm lại có một lớp con gái trẻ Hà Nội lớn lên, đẹp hơn trước. Phụ nữ Hà Nội đi đâu cũng không lẫn vì nhiều vẻ. Đó là một điều thật đẹp, thật vui. Ngay giữa lòng thành phố, có thể nhận ngay ra người phụ nữ có cốt cách Hà Nội, bất kể tóc đã hoa râm, bạc trắng hay còn tóc thề để xoã ngang vai, bất luận họ đang vội vã, đang ngồi trên xe máy, đang trong rạp hát, đang ăn quà hay đang thả bộ ung dung trên vỉa hè. Phụ nữ Việt Nam vốn đôn hậu, dịu hiền, đoan trang, ý tứ. Phụ nữ Hà Nội hình như còn bình phương chất ấy lên trong tính cách, từ trong gia đình đến ngoài xã hội”.






alt


Người con gái Hà Nội đẹp trong từng lời ăn, tiếng nói, từng cử chỉ, hành động. Chẳng thế mà nhà văn Chu Lai đã từng khen trong “Hà Nội - Con gái”: Niềm tự hào của Hà Nội chính là cây xanh và con gái. Con gái Hà Nội lạ là thế, cuộc sống càng khó khăn hiểm nghèo thì vẻ đẹp con gái càng rạng rỡ, thách thức hoàn cảnh. “Con gái giữa đời thường đã đẹp. Con gái trong chiến tranh càng đẹp. Đẹp mỏng manh, đẹp siêu thoát, đẹp tội tình giữa lằn gianh cái sống và cái chết. Như vẻ đẹp suốt đời không quên được của những cô du kích, giao liên thấp thoáng đi trong rừng chiến khu D năm xưa”.







alt



Đặc biệt nhất là giọng nói con gái Hà Nội. “Thật chuẩn, thật nhẹ, thoáng chút giận hờn, thoáng chút tinh nghịch, thoáng chút nhõng nhẽo như chưa lớn, như vừa mới lớn, như chưa yêu lại như vừa được yêu, ngọt lịm, tinh khiết, như hát ru, như gió thổi vi vu ở nơi đầu lưỡi... Tiếng gió làm duyên cả những câu khó nói, những điều khó thốt thành lời”.







alt

“Tiếng con gái là tiếng động thảng thốt của tình yêu. Khi yêu, người ta có thể nói bằng mắt, có thể nói bằng miệng. Con gái Hà Nội biết nói bằng cả hai thứ một lúc. Nói vi vu, nhìn lúng liếng, bổ sung, hỗ trợ, đắn đo, ào ạt, sức nào chịu nổi! Tiếng con gái Hà Nội biến thiên chút chút theo dòng đời. Thời chiến tranh, là tiếng gió nhẫn nại pha chút ngậm ngùi, ly biệt. Thời bao cấp, ảm đạm, tiếng nói kia vẫn là tiếng gió nhưng có chiều chẳng còn ru êm như trước. Thời thị trường ngang ngửa, gam màu lại xen vào cả những thanh âm nghiệt ngã, rít rầm. Và cuộc sống hôm nay đang khá dần lên, tiếng nói kia cũng dần dà tìm lại được hơi gió vi vu trong từng âm tiết của mình”.







alt



Chẳng phải ngẫu nhiên mà con gái Hà Nội trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn, nhà thơ say sưa với đề tài Hà Nội, với nỗi lòng đau đáu muốn làm gì đó cho Thủ đô khi luôn mang trong mình tình yêu Hà Nội tha thiết.


“Chẳng thơm cũng thể hoa nhài
Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An…”





alt

Nét đẹp con gái Hà Nội còn là nét duyên thầm ẩn sâu qua từng cử chỉ, ánh mắt, lời nói. “Bước đi khoan thai, không lê dép quèn quẹt, ý tứ ngồi khép chân, không nói trống không lỗ mãng ngoài đường…” Con gái Hà Nội xưa nay vẫn hấp dẫn lạ lùng trong mọi con mắt, mọi trái tim từ người thợ đến nhà thơ.


Từ cái nếp được cha mẹ uốn nắn trong gia đình, để rồi khi ra xã hội cũng vậy, vẫn là người con gái kín đáo, ý nhị, lịch thiệp, mềm mỏng và giàu lòng tự trọng. Cách đi đứng nhẹ nhàng, khoan thai, nhấc cao chân để không phát ra tiếng quèn quẹt nơi công sở, lối ăn mặc nền nã, duyên dáng mà kín đáo, ngay ngắn, phù hợp với từng môi trường. Lời thưa tiếng gửi, lời dạ tiếng vâng vẫn luôn là điều mà mọi phụ nữ có giáo dục gìn giữ cho bản thân trong giao tiếp, dù họ ở địa vị xã hội nào. Lối trang điểm của những người con gái còn giữ cốt cách Hà Nội xưa cũng thật khéo, phớt một chút để duyên hơn, nồng hơn, chứ không cốt khoe mẽ những loại son phấn màu mè, lòe loẹt, biến khuôn mặt xinh tươi của mình thành những chiếc mặt nạ cứng đờ.





alt


Có người cho rằng: Bây giờ thật khó tìm trên đường phố Hà Nội những bóng hồng tóc dài, cặp lửng sau lưng, dáng hình mảnh mai, thon thả trong chiếc áo dài trắng tinh khôi. Càng khó tìm thấy trong những cô gái Hà Nội tóc tém nhiều màu, quần áo đúng mốt... cái nết "công, dung, ngôn, hạnh" vốn là niềm tự hào của con gái Hà Nội xưa. Bởi họ là hiện thân của một Hà Nội hiện đại, một Hà Nội ồn ào, náo nhiệt và đầy sức sống mới.







alt


Nhưng, con gái Hà Nội bây giờ làm việc trong những công sở, văn phòng, những trung tâm thương mại hay ngay tại các cửa hàng, cửa hiệu... cũng vẫn mang những phong cách truyền thống, khi họ được giáo dục bởi những phụ huynh có trách nhiệm. Dù cuộc sống thời nay đã kéo những phụ nữ Hà thành ra khỏi gia đình, để góp công góp sức cho toàn xã hội, thì họ vẫn luôn dành quỹ thời gian nhiều nhất có thể để tự tay nấu những món ăn mà bố mẹ, chồng con họ ưa thích, phụng dưỡng cha mẹ, nuôi dạy con cái theo nền nếp gia đình.

Cho dù còn có mặt này, mặt khác, những phụ nữ trẻ Hà thành thời nay năng động chứ không được dịu dàng, đằm thắm như bà, mẹ họ thuở trước, nhưng đa số vẫn giữ được những nét tính cách thật đẹp, thật đáng tự hào của phụ nữ Hà thành. Đừng thấy một số ít thiếu nữ cười nói hô hố, ăn mặc hở hang, son phấn choe choét... trên phố để cho rằng con gái Hà Nội bây giờ thật vô duyên. Bao nền nếp, tinh hoa nét sống, bao phong cách đẹp không thể nào mai một.





alt



Hà Nội hiện đại, ồn ào, náo nhiệt. Hà Nội phát triển, hội nhập với bạn bè quốc tế. Hà Nội chuyển mình với những bước tiến mới, Hà Nội đang thay da đổi thịt từng ngày nhưng điều đó sẽ không làm mất đi những giá trị truyền thống - những thứ đã làm nên một Hà Nội ngày nay.






alt


Con gái Hà Nội vẫn là những bông hoa đẹp để Hà Nội tự hào về họ. “Sắc hương” của con gái Hà Nội vẫn cứ mãi đẹp, mãi thơm cho dù thời gian có qua đi, bởi… “Con gái Hà Nội mà, làm sao lẫn được!”.

(Cùng nhìn ngắm bộ ảnh Con gái Hà Nội duyên dáng áo dài)








Bài: Hồng Anh