Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỷ niệm thầy trò. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỷ niệm thầy trò. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

KỶ NIỆM “POLYESTER 100%"


         Cứ mỗi lần đến thăm cô lại thấy tuổi học trò trở lại. Cô luôn vui vẻ với lũ trò và chúng tôi bị cuốn hút với cách giao tiếp gần gũi của cô. Có năm đến ngày Hiến chương Nhà giáo, đến thăm cô, bọn tôi lại thấy học trò các lứa đến thăm cô, rất đông. Trông như một buổi mit tinh vậy. Cô lần lượt giới thiệu học sinh các khóa cho nhau. Lũ trẻ nhìn chúng tôi còn thì thào:” Cô giáo có vẻ  trẻ hơn học sinh”. Hình như cô không quên đứa nào cả. Cũng lại ngày đó, cô cùng bọn tôi ôn lại những ngày xưa. Lũ trẻ các khóa sau dường như có so sánh, thấu hiểu hơn những gì mà thầy cô, đàn anh đàn chị đã trải qua.
        Còn nhớ buổi gặp mặt đầu năm lớp 10 giữa học sinh và các thầy cô. Đến phần giao lưu, chúng tôi thấy một cô giáo giới thiệu sẽ hát một bài, chúng tôi rất hào hứng. Lạ lùng hơn, cô hát bài “Ông sư”, bài hát ngồ ngộ mà chúng tôi cũng thỉnh thoảng nghêu ngao:

... “Ngày xưa có những anh chàng,
Vì đường công danh lỡ làng,
Và vì duyên số bẽ bàng...
Nên giận đời, nên giận người, cắt tóc đi tu,
Buồn cười  thầy tu,
Tu gì tu thế,tu măng giê tu,
Tu chén thịt bò,tu ăn sáo chó,
Tu đi luyện súng ,tu ra tiền tuyến, 
Tu giết quân thù,
Nay mai khi thanh bình về
Xe Sư đi qua Bờ hồ, 
Biết bao nhiêu mái tóc thề,
Nhìn Sư say đắm, lòng Sư vui lắm,
Hoan hô Ông Sư, chiến thắng quân thù,
Thủ Đô tưng bừng, bao nhiêu đám cưới ông Sư. ”...1
        

         Cả bọn nghe cười lăn lộn. Đó chính là cô Vân, cô giáo dạy Hóa của lớp. Lúc đó, khoảng cách giữa thầy trò trở nên gần gũi hơn rất nhiều.
         Cô giảng bài rất dễ hiểu. Bên cạnh các bài thí nghiệm trên lớp, cô còn dẫn ví dụ các hiện tượng thực tế liên quan đến môn hóa học của cô: Cách nhớ các công thức hóa hữu cơ, vì sao ăn vỏ bánh mì dễ tiêu, vải hóa học hay cotton nên dùng khi nào, ở đâu và dùng thế nào, phương pháp craking dầu mỏ, thuốc nổ TNT ... Có lẽ chính vì vậy, bọn tôi nắm được bài ngay trên lớp. Về nhà ôn lại không cần nhiều. Nhớ nhất là câu giới thiệu của cô “ Polyester 100% “ mà bây giờ lũ trò của lớp 10H cô dạy vẫn thường xướng lên khi nhớ về cô. Ngày ấy, chất liệu và hình thức quần áo khá đơn điệu. Thường là vào cuối năm cũ và đầu năm mới lại xuất hiện các mốt quần áo mới. Nô en thường là đợt “tổng duyệt” mốt mới cho Tết năm sau. Năm ấy, quanh Bờ Hồ, nam thanh nữ tú bắt đầu diện mốt quần áo mơi. Trong bài giảng của mình về Polyester, cô đã lấy trang phục quần áo năm đó để minh họa về hợp chất này và dẫn ra câu nói đó.
Cô có một trí nhớ rất tốt về học trò của cô. Dù đã nghỉ hưu, nhưng tình cảm cô vẫn luôn gắn bó với trường và học sinh. Những ngày đến thăm cô, bao giờ cô cũng hỏi thăm về bạn bè cùng lớp, mặc dù bọn tôi vẫn biết cô cũng gặp bao khó khăn về việc nuôi con và về sau là lo cho sức khỏe của chú. Vẫn giọng nói thanh nhẹ, cô nhắc đến “cậu này, cậu kia, cô  này, cô kia..” như một người bạn bè cùng lớp. Có bữa, cô còn gọi điện trao đổi về bài thơ của học sinh của khóa trên Blog.
    Trong biên niên của trường cấp III Nguyễn Trãi ghi nhận cô đã đạt danh hiệu giáo viên giỏi và với chúng tôi, cô luôn là một cô giáo mẫu mực.

Cô Vân cùng học sinh nhân 60 năm thành lập trường cấp III nguyễn Trãi
BàngHS
=======
1: Bài hát sáng tác cho những người lính dựa theo bài thơ "Tây tiến" của Quang Dũng (Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc)

Thứ Hai, 7 tháng 1, 2013

CÔ GIÁO CHỦ NHIỆM CHÚNG TÔI

Nhân ngày 20-11 năm vừa qua, chúng tôi lại gặp cô nhân dịp cô ra chơi ngoài Bắc. Cô là giáo  viên chủ nhiệm lớp tôi năm học 1970-1971. Vẫn giọng nói âm hưởng miền quê Hà Tĩnh, cô nhẹ nhàng hỏi thăm lũ trò xưa.  
   Tôi vẫn ấn tượng năm học cô làm chủ nhiệm 9I chúng tôi. Đầu năm ấy, lớp tách nhập liên tục và cũng phải trải mấy qua mấy thầy cô chủ nhiệm. Đó là lớp với tên chót cùng của khối. Lớp tập trung  nhiều học sinh từ nhiều trường trở về sau  chiến tranh phá hoại. Học sinh cũng khá đa dạng và phức tạp. Một số cậu bé, thậm chí cả các cô bé nghịch ngợm, khuấy động lớp như cãi nhau, đánh nhau, đốt “hạt thối” trong giờ học, “bát tiết”…Điều này làm các thầy cô phiền lòng.  Thế mà tôi chưa thấy cô cáu giận bao giờ. Lũ trò tuổi mới lớn luôn mong muốn thể hiện mình.. Với tấm lòng yêu thương học trò, kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm, cô đã kịp thời uốn nắn những hành động sai lạc. Lũ học trò vẫn nhớ đến cô với biết bao kỷ niệm.
Trao đổi với cô, chúng tôi được biết: Năm 1956, Cô ở trường Sư phạm thuộc Bộ Giáo Dục. Năm 1958, Cô được cử đi học Thể dục Thể thao trường Quần Ngựa thuộc Ban Thể dục Thể thao Trung Ương. Cô là 1 trong 3 Vận động viên xuất sắc được chọn đi biểu diễn toàn quốc cùng đoàn kiện tướng Trung Quốc sang biểu diễn tại nhiều thành phố ở nước ta. Sau đó được Bác Hồ mời hai đoàn Việt Nam và đoàn Trung Quốc vào dinh phủ Chủ tịch gặp Bác Hồ. Cô được Bác Hồ khen ngợi, dạy bảo và vinh dự được chụp ảnh với Bác Hồ.
Năm 1959, Cô dạy Thể dục Thể thao tại trường Đại học Sư phạm. Năm 1961, được chọn đi học trường Thể dục Thể thao Trung Ương, nhưng năm 1961 Cô bị tai nạn nghề nghiệp, bị gãy chân và chấn thương cột sống, phải chuyển về Bộ Giáo Dục làm cán bộ chỉ đạo của Bộ. Năm 1962, Cô được Bộ Giáo Dục cử đi học tại chức tại trường Đại học Sư phạm. Việc học vất vả đến mức năm đầu tiên có 2.000 sinh viên, sau ba năm con số chỉ còn hơn 200 sinh viên. Cô còn học thêm trường Đại học Tổng hợp Hóa ban đêm và năm 1966, Cô đã tốt nghiệp cả 2 trường.
Sau tốt nghiệp, Cô đã đi dạy nhiều trường: cấp III TDTT, Bộ Giáo Dục (Chương Mỹ), trường cấp III Cao Bá Quát Hà Nội,…Cuối năm 1971, Cô dạy tại trường cấp III Nguyễn Trãi. Lớp chúng tôi chính là lớp đầu tiên của trường Cô làm chủ nhiệm. Năm sau đó, do bị tái phát chấn thương cột sống ở trường TDTT nên bị liệt cả hai chân phải đi điều trị mất một năm học.  Kiên trì chống chọi với  bệnh tật, cô đã từng bước rèn luyện để phục hồi sức khỏe và trở lại trường tiếp tục công việc yêu quý của mình. Cô đã đồng hành cùng bao lớp học trò với vai trò giáo viên Hóa học và giáo viên chủ nhiệm. Cô nghỉ hưu và chia tay trường cấp 3 Nguyễn Trãi năm 1993 .
Một trong những điều đáng nhớ nhất đọng lại trong Cô là lời khen ngợi và dạy bảo của Bác năm đó: “Cháu là một trong ba vận động viên xuất sắc được chọn đi biểu diễn toàn quốc là cháu giỏi nhưng phải luôn luôn cố gắng học thể dục thể thao giỏi cùng với học văn hóa giỏi để nâng cao kiến thức để hiểu nhiều, biết rộng”. Đó cũng là một mong mỏi đồng thời cũng là một nguồn cổ vũ đối với cô. Đó cũng là điều lý giải vì sao cô đã vượt qua bao gian khó  và hoàn thiện mình.
BàngHS
(Ghi theo lời kể của cô Hai)

Cô Hai (dấu V) chụp cùng Bác Hồ
và các vận động viên Trung Quốc (1958)

Cô Vân, Cô Hai cùng “bọn trẻ” mà cô chủ nhiệm
nhân 50 năm thành lập trường Nguyễn Trãi
 

Thứ Sáu, 18 tháng 11, 2011

TÌNH THẦY TRÒ LỚP 10B

Lớp 10B năm hoc 1971-1972 sau những ngày chia tay trường phổ thông cấp 3 Nguyễn Trãi, mỗi người một phương. Đứa đi làm , đứa bộ đội, đứa học tiếp. Trong và ngoài nước đủ cả. Lớp vẫn gặp nhau nhưng mới chỉ là các nhóm. Đất nước cùng mỗi người chúng ta đã trải qua những thời kỳ gian khó. Nhưng học sinh lớp 10B vẫn thường xuyên nhớ đến nhau qua những kỷ niệm tuổi học trò. Và trên hết là nhớ đến thầy cô, những con người đi trước đã dồn bao sức lực để dạy dỗ đàn em tương lai.
Sau này, mỗi khi có dịp, lớp 10B chúng tôi lại tổ chức gặp gỡ nhau. Có những buổi tổ chức để học trò được gặp gỡ lại thầy cô. Thật là vui vẻ và cảm động! Nhìn lại những khoảnh khắc trong từng bức ảnh, mọi kỷ niệm vẫn vẹn nguyên. Xin giới thiệu một số hình ảnh những ngày đó.


THÀY MAI CHỦ NHIỆM CÙNG LỚP 10B NGÀY 15/12/1996









THÀY MAI CHỦ NHIỆM CÙNG LỚP 10B NGÀY 7/12/1997













CÁC THẦY CÔ CÙNG VỚI LỚP NHÂN KỶ NIỆM 30 NĂM TỐT NGHIỆP TRƯỜNG CẤP III NGUYỄN TRÃI






Hàng trên từ trái sang phải:
Cô Châu( dạy Địa lý)-Thầy Huy(dạy Toán)-Thầy Tề(dạy Sử)- Thầy Huyền(dạy Trung văn)



Bloggers 10B

Thứ Bảy, 13 tháng 11, 2010

Thầy Văn Tâm của Bàng, của tôi, và của các bạn!

Thú thật với các bạn: vừa cảm động đọc bài của Bàng, tôi vừa tự trách mình đã từ lâu chưa viết xong một bài riêng về thầy. Dù thầy vẫn ở bên tôi trong bao năm tháng qua, dẫu khi văn chương ở xa hay ở gần tôi.

Vâng, bản thảo còn đó, đã qua hàng chục lần “dọn nhà trên máy tính”. Đọc xong bài của Bàng, tôi bỏ dở các việc gấp gối khác, lao vào “Kho bài còn nợ”. Và tìm nhanh được bài về thày Văn Tâm; như mọi lần: nhìn nhanh lại các suy nghĩ của mình, và gom góp các suy nghĩ của bao người khác về thày…
Các bạn ạ! Tôi vốn viết chậm, nên bài về thầy, cứ nhủ lòng, phải viết sao cho ra tấm ra miếng, mới xứng với những gì có được từ thầy. Dù tôi tin là thầy không biết; Như bao thầy giáo cô giáo khác, khó có thể biết mình đã gieo trồng được bao nhiêu cây đời trên mặt đất nhân loại. Bản thảo đó tôi khởi viết sau khi đọc hai-ba lần cuốn sách để đời của thầy: Vườn Khuya Một Mình.
Hôm nay, tôi viết vội bài báo nhỏ này, như tiếp lời bạn Bàng, nhân 20-11 cùng tất cả các bạn, nhớ đến thầy Văn Tâm và các thầy các cô khác ở trường Nguyễn Trãi trong năm 1972 – cái năm mà sau đó mỗi chúng ta đã vĩnh biệt tuổi thơ, tạm biệt mái trường.

Dưới đây, mời các bạn đến với trích đoạn từ một tham luận văn học của tôi (với bút danh Đỗ Quyên), được viết 3 năm trước, có nhắc tới thầy Văn Tâm. (Để hợp với nguyentraik22.blogspot.com, tôi cũng đã biên lược đôi chút mà không thay đổi nội dung bản gốc)


Hai chữ Tâm Văn:
Văn học Việt ở nước ngoài hình thành một Tâm Thế Văn Chương rất đa dạng ở các tác giả. Tâm Thế Văn Chương là gì? Cũng được nhắc đến lâu nay, nhưng có lẽ chưa ai chỉ mặt đặt tên, khái quát nó như một kết quả của dòng văn học Việt Nam ở ngoài nước.
Tôi xin tạm gọi mối tương quan của nhà văn với đất nước, với thời thế xuyên qua tâm tư, hoàn cảnh riêng của cá nhân (….) khi ra nước ngoài là Tâm Thế Văn Chương. Và rút gọn lại một lần nữa: Tâm Văn.
Có thể chữ Tâm Văn này nghe chưa ổn, về cấu tạo từ vựng. Mong Hội thảo tạm cho qua. Ăn nhau là ở cái nội dung. Nếu như (…) để so sánh với các tác giả trong nước thì ta thấy, tâm văn của các đồng nghiệp đó - trừ một số rất ít - không nổi trội lên qua tác phẩm của mình.
Phải thưa ngay cùng Hội thảo rằng, hai chữ Tâm Văn tôi có được là để viếng tặng người thầy giáo dạy văn mà tôi may mắn được học ở lớp cuối trung học, trường Nguyễn Trãi, Hà Nội: thầy Văn Tâm! Những ai làm phê bình văn học, hoặc quan tâm đến sinh hoạt của văn giới Hà Thành, ít nhiều đều biết nhà phê bình, nhà giáo Văn Tâm, tên thật Nguyễn Văn Tâm. Là nhà phê bình văn học – và không may bị sự kiện NV-GP đẩy ra ngoài lề ngay khi mới ra nghề và đang thành tài - Văn Tâm luôn luôn vượt văn phận của mình, đến cuối đời vẫn giữ một vị trí tiền phong và độc đáo trong một số cách tân táo bạo ở sự thẩm định một số tác phẩm văn học, một số phương pháp phê bình, giảng dạy văn học…
Thày của tôi mất đã mấy năm rồi. Tới nay tôi còn nợ mình một bài viết khóc thầy khi ở ngoài này hay tin buồn đó. Bản thảo vẫn là bản thảo, và đây là dịp tôi được viết ra đôi điều trong đó.
Với nhiều tác giả khá dễ dàng xác định tâm văn của họ: nhà văn Nguyễn Văn Thọ, nhà thơ Thế Dũng, nhà văn Thuận, nhà thơ Đinh Linh, nhà phê bình-dịch giả Đinh Từ Bích Thúy… Và còn nữa, ở các tác giả thâm niên hải ngoại như: nhà phê bình Đặng Tiến, nhà thơ Thường Quán, dịch giả Nguyễn Ước, nhà thơ Viên Linh, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, nhà thơ Đỗ Kh., nhà văn Mai Thảo, nhà văn Nhật Tiến, nhà báo–nhà văn Khánh Trường… Và có không ít tác giả không dễ “tìm ra” tâm văn. Với mỗi tác giả đó, cần có sự đọc chu đáo về họ.
Tính đa dạng tâm văn của văn học Việt ở ngoài nước không khó giải thích nguyên nhân. Chỉ còn lại những câu hỏi: Ảnh hưởng của nó lên sáng tác, lên các động thái văn học ra sao? Nó làm văn chương hay lên, hay là dở đi? Tức là, có thể đặt lại vấn đề: sự phong phú – có phần rắc rối - của tâm văn nơi các nhà văn ở ngoài nước là thành tựu hay là cản trở cho nền văn học này?”

Cám ơn Hồ Sĩ Bàng đã viết một bài sinh động và đầy đặn về THẦY VĂN TÂM như là một người thầy dạy văn của Bàng, cũng là của tôi, và tất nhiên là của cả chúng ta – các thành viên của nguyentraik22.blogspot.com!


Chiều 12/11/2010
Đỗ Ngọc Thủy

THẦY VĂN TÂM CỦA TÔI


Vào đầu năm lớp 10, chúng tôi được biết thầy sẽ dạy văn chúng tôi là thầy Văn Tâm. “ Thầy ấy giỏi lắm! Đáng lẽ thầy dạy văn Đại học nhưng “dính” một họa văn chương nên mới xuống dạy trường Cấp III mình đấy!”. Chúng tôi hồi hộp chờ.
Buổi đầu lên lớp, với mái tóc vuôt ngược để lộ vầng trán cao, khuôn mặt đầy đặn ẩn sau cặp kính, đôi môi luôn hơi mím lại tôi thấy thầy có vẻ khó gần. Giờ đó, thầy giảng về quá trình làm một bài văn. Thầy có cách giảng: đọc cho học sinh chép những điều cần thiết, sau đó bắt đầu là quá trình diễn giải, lúc đó ai muốn ghi gì thì ghi. Bài giảng của thầy thật thú vị với hình ảnh làm văn cũng như xây một tòa nhà với tìm hiểu công năng căn nhà định xây( phân tích đầu bài), quá trình thiết kế nhà (xây dựng dàn ý), chuẩn bị vật liệu (lựa chọn dẫn chứng, mạch văn), thi công (viết bài). Một vấn đề tưởng chừng khó mà thầy diễn giải nghe rất hình ảnh và đơn giản làm sao? Tôi vẫn coi môn văn là môn “khó nhai”, thế mà cũng thấy hứng thú. Tôi thích thầy ngay từ đó.
Những giờ văn thầy giảng đều chứa đựng nhiều nội dung: xuất xứ của tác giả, tác phẩm và các bài văn và thơ đều được dẫn chứng sinh động. Qua thầy, tôi càng hiểu rõ thêm mỗi tác phẩm nổi tiếng đều mang đấu ấn tư duy, môi trường sinh hoạt mà tác giả đã trải nghiệm.”Ý nghĩ của kẻ trong lâu đài khác với của kẻ trong túp lều tranh”. Khi giảng các bài về “Chí Phèo”, “Đôi mắt”, thầy cho thấy nhiều góc độ khác nhau của Nam Cao thông qua việc dẫn giải nhiều tác phẩm của Nam Cao không có trong sách giáo khoa . Tôi vẫn nhớ hình ảnh mà thầy nói về Nam Cao :“ cái cười trong ông là cười nhếch mép”.
Có lần, thầy dẫn bài thơ: “…Chúng tao là đoàn quân du kích / Là tao chỉ thích có đánh Tây / Mùa đông này mà mày tiến lên đây / Thì tao đánh cho mày phải chết / Lưỡi gươm này mài sắc phải biết / Chém đầu Tây cho hết thì thôi / Thế là Việt Nam ta độc lập rồi / Dân ta không phải làm phu nữa..” Bài thơ nghe rất ngô nghê! Nhưng thầy nói: hãy hiểu đây là những người dân thể hiện tấm lòng mình. Đặt tâm trạng môt người không có nhiều chữ trong kháng chiến giữ lấy đất nước với chính quyền non trẻ trước một kẻ thù mạnh hơn gấp nhiều lần. Thầy chỉ ra tính đơn giản của bài thơ nhưng với bối cảnh lúc đó nó phản ánh một khí thế hừng hực của bao người dân yêu nước, sẵn sàng tiêu diệt bọn xâm lược. Thầy so sánh cách nhìn của những người dân này với cách nhìn của nhà tri thức trong “ Đôi mắt” của Nam Cao. Chúng tôi có thêm những cái nhìn đa chiều trước hiện thực văn học thời đó. Và còn gặp lại những điều này khi đi cùng những bài giảng khác của thầy nữa.

Ấn tượng nhất là những bài giảng của thầy về những bài thơ trong “Nhật ký trong tù”. Bao giờ thầy cũng yêu cầu tìm hiểu nguyên tác trước. Sách giáo khoa có bài “Rằm tháng giêng”. Mở đầu thầy không dạy ngay : “Chúng ta viết viết nguyên tác nào!”

NGUYÊN TIÊU
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thuỷ tiếp xuân thiên;
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.

Bản dịch:
RẰM THÁNG GIÊNG
Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn mầu trời thêm xuân;
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.

Rồi thầy bắt đầu giảng. Vốn Hán Việt của thầy rất sâu sắc . Thầy ca ngợi điệp từ “xuân” trong câu thứ hai của nguyên tác và cho thấy hai câu đầu của bản dịch đã giữ trọn được ý hai câu đầu của nguyên tác. Nhưng ý “yên ba thâm xứ” thì bản dịch dù nêu cảnh rất đẹp nhưng chưa nêu được trọn ý. Rồi thầy nêu thủ pháp tả cảnh, tả tình. Tôi nghe bài giảng mà cảm giác mình cũng đang chiêm ngưỡng đêm rằm ở nơi xa xôi huyền ảo đó. Cho đến bây giờ mấy đưa lớp tôi vẫn thuộc nhiều bài nguyên tác trong “ Nhật ký trong tù”, và khi trao đổi với bạn bè nơi khác vẫn đọc nguyên tác làm chúng nó phục lăn.
Thầy là một giáo viên đòi hỏi ở học sinh khá khắt khe. Lớp có một số bạn có năng khiếu văn như bạn Thoa, bạn Thủy…được thầy khen nhưng rất kiệm lời. Tôi không là học sinh giỏi văn trong lớp. Nhưng có lần, tôi được thầy gọi lên và nói:” Bài tập làm văn của em, thầy định cho điểm 7. Bài có nhiều tư liệu nhưng nếu diễn giải mạch lạc hơn thì mới có điểm tốt đươc, em cố gắng bổ sung nhé”. Tôi vâng lời và cả tối trằn mình ra viết lại. Nhưng khi trả bài vẫn là điểm 6. Tôi đã phụ lòng tin của thầy. Nhưng được điểm đó của thầy, tôi vẫn thấy tự hào.
Những ngày đầu năm 1972 đỏ lửa chiến trường, lớp tôi có mấy cậu nhập ngũ. Lũ học sinh cùng lớp chúng tôi chia tay bịn rịn với bao tình cảm. Về sau tôi mới biết thầy Văn Tâm đã mời các cậu một bữa ăn tại nhà thầy mấy hôm trước khi họ nhập ngũ. Lớp trẻ vô tư với những gì phía trước, còn người thầy thấu hiểu những khó khăn gì nơi chiến trường đang chờ đón các cậu ấy.
Về sau, khi đã ra trường, thỉnh thoảng chúng tôi vẫn đến thăm thầy và nghe thầy nói chuyện. Có hôm thầy kể về việc được mời đến nói về văn thơ của Bác Hồ cho một cơ quan thuộc Thành ủy. Thầy mở đầu bằng cách đặt vấn đề “ Bác Hồ có nghĩ về mình không?” “ Có đấy!” làm cả hội trường xôn xao. Bác đâu có nghĩ về mình, nghĩ cho dân cho nước chứ! Nhưng từng bước thầy cho thấy Bác là con người rất Người, luôn đặt mình trong mỗi bối cảnh người dân, từ đó mới tìm ra những khúc mắc, những nguyện vọng của họ và do vậy mới có sự đồng cảm với mọi người. Câu hỏi được giải đáp rất thấu đáo và ai cũng cảm thấy thú vị.
Lại có lần bọn tôi đến thăm thầy. Tôi kể chuyện một lần khi về công tác ở trường Sư phạm Vinh, khi đi đến Xuân Thành, qua Nghi Xuân, chúng tôi rẽ vào nhà thờ cụ Nguyễn Du. Bác bảo vệ khi thấy tôi treo mũ vào xe thì nhắc:” Anh mang theo vào đi, nếu không trẻ con nó lấy mất!”, tôi đùa :” Quê của cụ Nguyễn Du cơ mà, ai làm thế, cụ trách chết!”. Nghe thế, thầy buột miệng :”Cậu nói được đấy”, nhưng rồi thầy trầm xuống: “ Thế đấy các em ạ!”
Một lần qua hiệu sách, tôi mua được được cuốn “ Vườn khuya một mình” của thầy. Đọc cuốn sách đó, tôi càng hiểu thêm người thầy của mình. Những bài giảng ngày xưa như hiện về trong tôi rất đậm nét thông qua các bài “ Cảm thức nhân loại trong Nhật ký trong tù”,”Mấy suy nghĩ về học thuật hôm nay nhân vấn đề văn học lãng mạn”,”Buồn vui lý luận phê bình hôm nay”…Quá trình tìm tòi tư liệu để viết về các tác phẩm Vũ Trọng Phụng, Tản Đà, Đoàn Phú Tứ… của thầy thật đáng trân trọng. Nhiều nhà văn đã ca ngợi công lao phát hiện của thầy với những tác gia này. Họ đều cảm phục sức lao động, tinh thần dũng cảm vượt qua những khó khăn về tinh thần và thể chất và trên hết là lòng đam mê văn học nghệ thuật của thầy.
Về sau, tôi vẫn gặp lại kỷ niệm về thầy qua cô giáo dạy văn cho con gái tôi. Cháu rất khâm phục cô giáo của mình và thường “tầm chương trích cú” những lời của cô. Hỏi ra mới biết cô giáo cũng từng là học sinh Nguyễn Trãi. Cô giáo tâm sự:”Anh biết không, ngày ấy Nguyễn Trãi thường là trường đội sổ của quận, chẳng học sinh khá nào muốn vào học, nhưng em xin học ở trường vì nơi đó có thầy Văn Tâm dạy văn”. (Nói ra vị thế trường lúc đó chắc các bạn Nguyễn Trãi chúng ta cũng hơi buồn nhưng quả đúng vậy ). Cô giáo mang niềm đam mê văn học ấy đi học sư phạm văn và trở thành một giáo viên văn học giỏi của trường. Tôi đã xem các tài liệu mà cô giáo cung cấp cho học sinh. Chúng rất chi tiết, khoa học, thể hiện những tinh thần làm việc nghiêm túc và yêu nghề hết mực . Tôi cảm thấy trong cô vẫn có sự kế thừa từ thầy. Kết quả thi cuối kỳ về ngữ văn của lớp rất cao đến mức khi cô hứa sẽ thưởng cho học sinh nào điểm 8 văn trở lên thì hơn nửa lớp đạt được kết quả đó!
Chúng tôi luôn tưởng nhớ về thầy. Chúng tôi đã có được cách thức thẩm văn theo phương pháp của thầy. Chính thầy đã giúp chúng tôi sống “Người” hơn, biết nhìn nhận nhiều vấn đề xã hội với con mắt nhân văn, biết trân trọng giá tri cuộc sống hơn! Em xin chân thành cảm ơn thầy !
25/10-9/11/2010
HỒ SĨ BÀNG