Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhớ mãi những Liệt sỹ anh hùng đã hy sinh cho Độc lập tự do của Tổ quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhớ mãi những Liệt sỹ anh hùng đã hy sinh cho Độc lập tự do của Tổ quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2022

Trồng hoa trên mộ liệt sĩ

Nhạc và lời: Thế Song. 




https://www.youtube.com/watch?v=qlboXRgGSR8

Em trồng hoa hồng bên anh đài chiến công ghi nhớ đời đời. 
Em được nghe chuyện năm xưa người chiến sĩ giữ gìn non sông. 
Nếu các anh mến yêu hãy còn hôm nay , 
    anh sẽ dạy em nhiều bài hát rất hay. 
Em tung tăng nhảy múa bên anh người chiến sĩ anh hùng, 
trông hoa tươi chúng em không quên là nhờ ơn các anh.
Nay các anh đã hy sinh ở nơi đây, 
     nhưng muôn đời anh là người đã đắp xây 
nên bao trang sử sách vinh quang trên đất nước anh hùng. 
Trông hoa tươi chúng em không quên là nhờ ơn các anh.


Thứ Ba, 17 tháng 7, 2018

ĐÓN CON VỀ

Ơn Giời con đã về đây,
Sau bao năm tháng, bao ngày nhớ mong.
Đi đường xa, có mệt không?
Phải qua bao núi, bao sông, con nờ?

Bao đêm thao thức ngóng chờ,
Không chợp được mắt, lần rờ thắp hương.
Ngày con xếp sách lên đường,
Ngủ không được, mẹ thắp hương ông bà,
Khấn rằng cháu nó đi xa,
Cùng bao bạn nó đi ra chiến trường.
Xin ông bà rủ lòng thương,
Phù hộ cho cháu bước đường hành quân.
Vượt qua khó nhọc gian truân,
Đá mềm, chân cứng, bình an trở về.
Con đi, giữ trọn lời thề,
Tuổi xuân quyết hiến dâng vì nước non.
Ở nhà dạ héo, tâm mòn,
Ngày đêm năm tháng mong con chóng về.
Thế rồi một buổi chiều quê,
Có anh bộ đội tìm về nhà ta.
Tưởng vui, hoá lại xót xa,
Đất trời muốn sụp, mái nhà chao nghiêng….

Tìm con, đi khắp bao miền,
May, con khôn sống, thác thiêng, dẫn đường.
Thôi, giờ từ giã chiến trường,
Về quê hương mẹ thân thương thuở nào.
Con nằm trong lá cờ sao,
Mẹ ôm con giống ngày nào còn thơ.

Mẹ già, mái tóc bạc phơ,
Thâu đêm thức với bàn thờ cúng con.


Đỗ Quang Việt











(Ảnh trên mạng)


Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2014

PHÙ SA MẶN

Bloggers xin đăng lại những cảm nghĩ về những liệt sĩ đã hy sinh trong chiến tranh chống Mỹ của anh Xuân Lăng-một học sinh trường Thiếu sinh Quân Nguyễn Văn Trỗi.


"Xin thắp nén nhang tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi (1965-70) đã hy sinh nơi cuối nguồn của những dòng sông: Bên bờ sông Gianh (Quảng Bình) liệt sĩ Huỳnh Kim Trung đã hy sinh năm 1972. Bên bờ sông Thạch Hãn chảy qua Thành cổ Quảng Trị là nơi yên nghỉ của các liệt sĩ Bùi Hữu Thích, Nguyễn Lâm, Vũ Kiên Cường, Trịnh Thúc Doanh, Đặng Bá Linh, Y Hòa...
Tôi là một người may mắn được trở về sau những ngày ấy."

 Phan Tất Thành st

Kể đi sông ơi! Tôi muốn nghe tất cả
Hỡi con sông cõng nặng phù sa,
Xứ Quảng Trị - dẫu quen mà rất lạ
Bao lớp người qua, bao lớp đất bồi.
Tôi đến bên sông với tâm trạng bồi hồi
- Đâu rồi nhỉ? Đâu rồi lịch sử? 
Sông vẫn chảy mặc nhiên dáng trầm ngâm tư lự!
Hãy kể tôi nghe… dù chỉ đôi lời…!
Tôi vẫn biết: Trong suốt cuộc đời
Sông cũng như người: Buồn vui đủ cả.
Có khác chăng:
- Sông đục phù sa mùa hạ.
- Sông trong xanh nổi đá mùa đông.
Nhưng sông ơi! Sông có còn nhớ không?
Những đồng đội tôi đến bên sông ngày ấy
Những con người đầu trần, lưng cháy
Những ”thiên thần” đi xuyên bóng đêm!
Có phải vô tình? Hay lâu quá sông quên?
Như con nước vẫn đổ xuôi về biển…
May có lớp phù sa - phù sa còn lưu luyến
Giữ lại trong mình bao kỉ niệm xa xăm!
Thời gian trôi qua khỏa lấp tháng năm
Nhưng phù sa đến hôm nay còn mặn
Mang trên mình vết thương chưa lành hẳn
Lẫn xương, máu bao người
nên phù sa có vị mặn… Sông ơi!
Đồng đội tôi bao người đi xa rồi
Nhưng sông không bồi - mà sông chỉ lở
Những con người trẻ trung từng làm nên bão tố!
Họ ở đâu bây giờ? 
chỉ có phù sa mới nói hộ sông thôi. 
Tôi muốn xới lên bao lớp đất bồi
Để tìm dấu chân những đồng đội cũ
Tìm những hương hồn bao năm yên ngủ
Họ vẫn chưa về sau cuộc chiến tranh?
Tôi đang đi trong vô tận mầu xanh
Nghe phù sa vẫn thì thầm kể mãi:
- Đây nơi quân vào, đây nơi vượt bãi…
Tôi như trôi trong huyền thoại…
chơi vơi! 
Sông vẫn vô tình đổ nước về khơi
Đâu có biết tôi đang đi ngược dòng chảy.
Bởi có phù sa!
lớp phù sa rực một màu đỏ ấy!
Vẫn mặn mà với bao chuyện đã qua.
Ai đó trên sông đang cất tiếng ca
Hát về chiến công của một thời xa ấy.
Câu hát tỏa lan - xôn xao - sóng dậy.
Như lớp phù sa – chập chờn mãi
… trong tôi!
Quảng Trị, 8-2002
Xuân Lăng

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011

Tưởng nhớ bạn Y Hòa(10G)

Đài tưởng niệm các Anh hùng Liệt sỹ 
Ngày mai là ngày 16 tháng 10, là ngày giỗ của Y Hòa, tôi cùng các bạn hãy đốt nhang và tưởng nhớ đến Y Hòa và cầu chúc cho  linh hồn của bạn ấy  được phiêu diêu miền cực lạc.




Y Hòa Mlo Dzuondu




Nhớ mãi bạn Y Hòa Mlodzuôndu


Thái Hòa(10G).

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Nhớ bạn ở thành cổ Quảng Trị

Trước đây, tôi đã giới thiệu với các bạn bài "Gác bút nghiên lên đường đi chiến đấu"(Phần 1), nay tôi giới thiệu tiếp với các bạn phần 2 về Liệt sỹ Y Hòa và Chấn Hưng K22 Nguyễn Trãi của chúng ta trên Báo QĐND online:


Bộ đội cụ Hồ
Đồng đội mãi bên nhau
Tìm người ở lại (Kỳ 2)
QĐND - Thứ Hai, 26/07/2010, 15:37 (GMT+7)
QĐND Online - Đến khoảng gần cuối tháng 9-1972, hình như ta đã rút ra khỏi Thành cổ, chúng tôi được vào khu rừng tên là Chua Nga, gặp lại một số đồng đội, họ đều khẳng định tin các bạn tôi đã hy sinh. Trong số bạn bè thân thiết chỉ có tôi, Vũ Trung và một số nữa bị thương qua loa, có nhiều đứa bị thương đã ra Bắc. Tháng 4-1973, do thành tích chiến đấu tôi và nhiều bạn được gọi ra Bắc đi học sĩ quan và ghé về thăm nhà mấy hôm.
Gặp tôi, mẹ tôi đứng như chết lặng, nước mắt ròng ròng, rồi bà hỏi giọng lạc hẳn đi “Vậy mấy đứa kia đâu?”. Tôi vốn không biết nói dối nhưng không hiểu sao lại bật ra “Bọn con chia tay nhau ở Quảng Bình, chiến trường rộng lắm, con không gặp mà cũng không biết tin tức gì về chúng nó”.
Tìm kiếm hài cốt các liệt sĩ
Tôi chưa kịp đến thăm nhà Hòa, Hưng thì cô Mai, mẹ của Y Hòa đến gặp tôi, mời lên nhà vừa khóc vừa hỏi “Cô nghe tin nói Y Hòa đã hy sinh, cháu có biết gì không? Chắc không phải như thế chứ?”. Chú Nông, bố của Chấn Hưng thì gặp riêng tôi, nét mặt ông đau đớn đến cực độ “Chú có nghe Hưng đã hy sinh rồi, có phải vậy không? Nếu đúng như vậy thì cháu cũng đừng nói gì nhé vì mẹ của Hưng bị bệnh tim rất nặng, nếu biết tin chắc bà ấy không qua khỏi được”. Tôi chỉ im lặng không dám nói vì mình về gia đình mình vui, còn cô, chú thì đau buồn, làm sao mà nói được. Tối hôm ấy nhà tôi đông khách, những gia đình có con đi bộ đội cùng đợt với tôi ở Hoàng Hoa Thám, ở Bưởi, ở Ngọc Hà và Thụy Khuê… tìm đến hỏi thăm tin tức con em. Trong số ấy tôi đã biết chắc không dưới một chục người bạn đã  hy sinh nhưng không dám nói cho gia đình biết. Tôi cố nén nước mắt lặp đi, lặp lại câu nói dối mà tôi đã nói với mẹ để trả lời mọi người. Mãi cho đến bây giờ tôi cũng không biết mình làm như vậy là đúng hay sai nữa?
Chiến tranh qua đi, những người còn sống đều đã trở về. Tôi vẫn phục vụ quân đội, đi công tác khắp nơi kể cả sang Cam-pu-chia, rồi lại lăn lộn với công việc kinh doanh của một doanh nghiệp quân đội. Các bạn đồng ngũ của tôi thì cũng vất vả mưu sinh đủ nghề, cũng có người làm nên quan to, có người công ăn việc làm lúc có lúc không. Có người trở thành tỷ phú nhưng cũng nhiều người lâm vào cảnh túng bấn. Chẳng mấy khi chúng tôi gặp nhau mà ôn lại người xưa chuyện cũ, riêng những người nằm lại chiến trường thì chắc chỉ còn lờ mờ trong ký ức của những người đang sống và có lẽ chỉ có các mẹ già, người chị và các em mới thỉnh thoảng gặp các anh trong những giấc mơ. Xin các bạn thứ lỗi cho cuộc đời, cho bè bạn và cho cả những người thân.
Cho đến năm 2000 khi được cử đi làm đường Hồ Chí Minh đoạn từ Khe Sanh đi Quảng Bình tôi mới có điều kiện được quay lại Quảng Trị. Trong tôi ý thức bằng mọi giá phải đi tìm mộ của Hưng và Y Hòa vì ba má của Hưng đã mất, ba Y Hòa cũng vậy. Má của Y Hoà cùng gia đình đã trở về sống ở Tây Nguyên và bị bệnh tai biến.
Tôi đã dành rất nhiều thời gian lang thang hết tất cả các nghĩa trang liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị, đi đến gặp Ủy ban nhân dân các xã thuộc huyện Hải Lăng, Triệu Phong và các xã vùng lân cận Thành cổ tra tìm danh sách liệt sĩ đã được mai táng tại các nghĩa trang của xã, huyện nhưng không tìm được một tin tức gì.
Liệt sỹ Y Hoà
Mãi đến năm 2003, khi đọc bài báo “Sự thật về một lần bốc mộ…” đăng trên báo Tuổi trẻ chủ nhật số 31-2003, ngày 10-8-2003, cùng lá thư cuối cùng của Y Hòa viết ngày 16-8-1972 gửi về gia đình. Gia đình Y Hòa sau nhiều lần đi tìm mộ tại các nghĩa trang tại Quảng Trị không thấy, nên đành lấy một ít đất đưa vào nghĩa trang liệt sĩ ở Đắc Lắc thay cho xương cốt để mai táng. Lần đầu tiên sau hơn 30 năm tôi lại bật khóc, sao mà đau xót quá. Tôi ở trong Sài Gòn, gọi điện cho Vũ Trung ở Hà Nội nói đi mua báo ngay và bảo “Trung ơi, lá thư của thằng Y Hòa có nhắc đến 4 cái tên nhưng bây giờ thì chỉ còn có tao với mày, chúng mình phải có trách nhiệm tìm ra nơi chôn cất các bạn”. Cũng chẳng phải nói Vũ Trung đã từ lâu luôn tâm nguyện cũng phải đi tìm các bạn, nên đã tìm được Đức (người chôn các bạn), Quyết (người vuốt mắt Y Hòa lúc đã hy sinh) người làng Ngọc Hà đã từng ở cùng chốt với Chấn Hưng và Y Hòa ngày ấy. Các bạn đã phục viên, cuộc sống khó khăn, lam lũ làm Đức, Quyết già xọm, tóc bạc trắng so với tuổi. Gặp chúng tôi Đức khóc mà nói, “chính tay tao đã chôn cất thằng Hưng, thằng Hòa và 11 đứa nữa cùng chốt ở đồi Cháy, làng Như Lệ. Khi nào chúng mày đi thì đưa tao đi cùng vì hồi đấy ác liệt quá, chỉ chôn được vào buổi tối, chẳng kịp để cái gì làm dấu. Nghĩ lại đến giờ vẫn xót xa ân hận”.
Nhiều lần đi công tác qua Quảng Trị tôi đã lần mò đi tìm đồi Cháy ở thôn Như Lệ gần nhà thờ La Vang, thôn Tích Tường nhưng dân địa phương chẳng có ai biết đồi Cháy ở đâu. Rất có thể đồi Cháy chỉ là một cái địa danh do bộ đội mình đặt trên đường hành quân chiến đấu hồi ấy giống như vô vàn cái tên dốc Ba cô, ngầm ông Thọ, cua ông Khải… mà thôi. Tôi lần mò ở Quảng Trị nhiều, nên cũng có người nhớ và mỗi khi đến lại đều hỏi có tìm được địa danh ấy không?. Đến tháng 7-2007 tôi và Vũ Trung nhận được giấy mời của UBND thị xã Quảng Trị (chị Mai phó chủ tịch ký) mời tham dự lễ tưởng niệm các liệt sĩ nhân kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sĩ. Chúng tôi quyết định sẽ nhân dịp này đi tìm kiếm một lần nữa. UBND thị xã cử 1 đồng chí quê ở làng Như Lệ, có chị Mai đi cùng, cho xe chở chúng tôi đi. Lúc sắp ra xe chợt có 1 người thanh niên vai đeo ba lô xách 1 làn đồ cúng ra xin đi nhờ về Như Lệ. Trông chàng trai còn trẻ không thể nào là một cựu chiến binh nên tôi tò mò hỏi xem anh ta đi về  Như Lệ để làm gì. Qua câu chuyện chúng tôi được biết người thanh niên này là em trai một liệt sĩ thuộc Sư đoàn 325, nhờ có các bạn đồng ngũ, gia đình anh đã tìm được đúng nơi chôn cất người anh trai liệt sĩ nhưng khi đào lên thì có 2 bộ hài cốt không còn đầy đủ nằm lẫn lộn trong một căn hầm tại chốt. Người thân của liệt sĩ thứ hai cũng đã tìm được đúng vị trí ấy nhưng không có cách nào phân biệt được đâu là di cốt người thân nên cả 2 gia đình quyết định san sẻ chỗ di cốt còn lại làm 2 ngôi mộ đặt trong Nghĩa trang liệt sĩ huyện Hải Lăng. Năm nào cũng vậy cứ vào dịp 27-7 thì cả 2 gia đình đều cử người vào Như Lệ thắp hương ở nơi các anh đã nằm xuống. Người thanh niên họ khẳng định với chúng tôi là ở Như Lệ không có địa danh nào gọi là đồi Cháy mà chỉ có đồi Chè mà thôi, chính anh trai của anh đã hy sinh ở đó.
 Chúng tôi quyết định sẽ đi đến đồi Chè xem sao. Đến đồi Chè, chúng tôi cũng chỉ mang máng rằng có thể đây chính là nơi các bạn tôi hy sinh. Không dám chắc chắn nhưng vì không có thời gian nên chúng tôi quyết định cứ đặt lễ, thắp hương trên đỉnh đồi, hương hồn các bạn tôi chắc là cũng sẽ thông cảm. Khi chúng tôi vừa bày xong lễ thì chợt có chuông điện thoại, Trung nghe điện nhận ra cái giọng khàn khan, nghẹn ngào của Đức, nó trách chúng tôi sao không rủ nó đi cùng. Khi biết chúng tôi đang đứng trên đỉnh đồi Chè và chuẩn bị thắp hương thì nó mô tả địa hình xung quanh cho nó nghe. Chúng tôi vừa quan sát vừa nói phía Bắc là cái gì, phía Nam là cái gì, ở đỉnh đồi có thể nhìn thấy cái gì… Qua điện thoại Đức thở hổn hển nói vội vã như sợ ai cướp lời; “Thế thì đúng là đồi Cháy đấy nhưng không phải chỗ chôn chúng nó đâu, chỗ ấy là hầm chỉ huy chốt, chúng mày đi xuống qua yên ngựa phía đông đi… đã thấy mương nước nhỏ trước khi lên chốt không? Chỗ ấy là bếp Hoàng Cầm cũ… Có thấy cái hố bom không? Có à? Gần đấy có 3 gốc mít, tìm kỹ đi có thể người ta chặt mất 2 cây rồi thì sao…?”. Chúng tôi vừa nghe điện thoại vừa đi theo chỉ dẫn của Đức, chỉ một lát sau chúng tôi đã tìm thêm 2 gốc cây mít bị đốn sát gốc, ven một hố bom đã bị bồi lấp gần hết, cỏ dại, khóm tre mọc um tùm, xung quanh trồng sắn, chè, chỗ gốc cây bị đốn những chồi mít mập mạp đang cố vươn cao. Sau khi nghe chúng tôi mô tả lại địa hình một lần nữa qua điện thoại, Đức nghẹn ngào xác nhận “là chỗ ấy đấy, chúng mày thắp hương đi, ở nhà tao cũng khấn chúng nó”. Chúng tôi đặt lễ, thắp hương và thầm thì nói chuyện với vong hồn các bạn. Tôi gọi tên Hưng, Y Hòa và nói “Nếu quả thực đây chính là nơi các bạn hy sinh còn ở đây thì làm điều gì để chúng ta gặp nhau được đi Hưng ơi, Hòa ơi và các anh, các bạn ơi”. Trong khói hương nghi ngút chợt có đàn bướm vừa đen, trắng, vàng ở đâu xuất hiện cứ bay quanh quẩn trên đầu chúng tôi vần vũ theo làn khói của khói hương rồi bay theo đến đậu ở các vạt đất. Đúng lúc ấy chuông điện thoại lại réo vang, Đức gọi đến và bảo tôi: “Sơn ơi, ở đấy tao còn chôn Lê Văn Nho ở Hoàng Hoa Thám đấy. Tôi hỏi lại có phải ở số 46 Hoàng Hoa Thám, khu tập thể Sở xe điện không? Đức bảo đúng rồi, nhớ thắp hương khấn nó nhé”.
Tôi bàng hoàng cả người vì cho đến bây giờ tôi mới biết Lê Văn Nho cũng hy sinh ở đây, Nho với tôi học cùng lớp 10E ở trường Nguyễn Trãi, cùng đi bộ đội, Nho huấn luyện ở đại đội 43, cùng vào chiến trường và được biên chế về đại đội thông tin, Trung đoàn 209. Tôi biết tin Nho hy sinh ở Quảng Trị nhưng không ngờ là nó đã nằm xuống ở chính nơi này, tôi thắp thêm một tuần nhang và khấn Nho: “Bạn ơi, thông cảm cho mình nhé, mình không biết bạn nằm nơi đây nên không mua đủ quần áo, vàng mã cho bạn, ngày mai mình sẽ quay lại đây…”. Lễ xong khi chúng tôi đến mương nước trước khi qua cẩu rồi bay lại đồi Chè. Sau khi thắp hương đặt lễ, chúng tôi tìm vào một nhà dân gần đó. Ông Phước, người làm nhà ngay tại đồi cháy năm xưa bảo với chúng tôi: “Trong chiến tranh chỗ này đánh nhau ác liệt lắm. Sau chiến tranh dân trở về làm ăn đào được bom đạn chưa nổ và xương người nhiều lắm. Mấy tháng trước, huyện đội đi quy tập mộ liệt sĩ, ở phía trên đỉnh đồi đào được 1 cái hố có ba bộ hài cốt, tay bị trói lại với nhau bằng dây mình claymore. Chắc tụi nó nống ra bắt được bộ đội mình rồi giết dã man vậy đó…” . Bé gái 15 tuổi con của ông nói thêm: “Ở đây, cứ vào buổi tối là lại thấy bóng các chú về nhiều lắm, cháu không dám ra giếng giặt quần áo. Nếu các chú ở lại đây tối nay cháu chỉ cho…”. Chị Hiệp, một cựu nữ du kích Quảng Trị ngày xưa nay sống cô đơn trong căn nhà lá gần vườn chuối, nơi mà chôn cất các bạn bảo chúng tôi: “Sau chiến tranh, tôi dựng nhà ngay chỗ vạt đất phẳng trên vườn chuối đó nhưng không ở được. Đêm nào các anh ấy cũng về. Ngày rằm, mồng một tôi vẫn cúng mấy anh đấy chú à…”.
Liệt sỹ Nguyễn Chấn Hưng
 Hôm sau tôi và Trung mang đồ cúng quay lại đồi Chè, đốt thêm nhang cúng cho các bạn xin chia tay và hẹn tháng 10 quay lại, khi khấn, bướm lại bay đến nhiều lắm. Chúng tôi tìm cách liên hệ với gia đình Y Hòa, Hưng và Lê Văn Nho để báo tin đã tìm thấy nơi chôn cất các bạn. Đã 35 năm rồi nhưng khi được tin, có bao nhiêu là nước mắt vẫn rơi. Chúng tôi hẹn nhau đưa Đức và các gia đình liệt sỹ vào Quảng Trị và bàn kế hoạch quy tập hài cốt các anh.
Ngày 6-10-2007, tôi cùng Vũ Trung, Đức, Quyết, Vinh (bạn cùng nhập ngũ và cùng Trung đoàn 209 nay làm ở Ngọc Hà) đi vào Quảng Trị. Gia đình Lê Văn Nho không đi được mà chỉ gửi cho chúng tôi 1 tấm ảnh, các bạn cùng học lớp 10E trường Nguyễn Trãi với tôi và Nho thì gửi theo đồ cúng lễ. Có nhiều bạn muốn đi cùng nhưng xe chật nên dành ở lại. Gia đình Hưng thì có cả ba người em hiện đang sống ở 3 nơi cùng có mặt. Thật tiếc là trước khi đi tôi không liên lạc được với gia đình Y Hòa. 20h tối 6-10 chúng tôi mới vào đến nơi, Đức cũng chưa vội xác nhận ngay đây là đồi Cháy, vì trời tối, bên gốc mít thắp hương, chưa kịp cắm, đom đóm bay vào tay Trung đang cầm hương…. Phải đến sáng hôm sau chúng tôi vao đi khắp khu vực và đi sang bên Tích Tường, may sao lại gặp người xã đội trưởng cũ năm 1972 giúp chúng tôi xác nhận đúng trận địa năm xưa đã ở và chiến đấu. Đây chính là nơi các bạn tôi vẫn còn nằm ở đó. Khi quay về Trung lại lần xuống mương nước nho nhỏ ven đường để tìm dấu vết cái miếu nhỏ, nay đã không còn, cẩn thận xem lại vị trí cái hố bom, ba gốc mít nay chỉ còn một. Cuối cùng nó nói: “Đúng chỗ này rồi, hồi ấy chỉ có chỗ này là đạn pháo không bắn vào do vướng cái sườn đồi, chúng tao chọn nơi này để chôn cất anh em mình vì sợ đạn pháo lại đào lên lần nữa”.
Chúng tôi xây một cái miếu nhỏ làm chỗ thắp hương cho đồng đội tại đồi Chè (đồi Cháy), người dân còn gọi  là đồi Con Kiêu, xóm 2, thôn Như Lệ, xã Hải Lệ, Huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, thầm nghĩ đồng đội vào có chỗ gặp nhau, các bạn ở đây có nơi hương khói. Bà con quanh đồi chè giúp chúng tôi hương khói cho các anh. Đêm đó bên mâm cơm cúng các bạn có nhiều người dân bên đồi Chè căn dặn nhau phải hương khói cho các bạn. Đêm ấy chúng tôi ngủ ở Đông Hà, Vinh đã  mơ thấy Chấn Hưng về.
Từ lúc xác định được nơi chôn cất các bạn đồng ngũ trong lòng những cựu chiến binh chúng tôi canh cánh một điều “làm thế nào để phân biệt và quy tập xác định được hài cốt của từng  bạn về một nơi xứng đáng hơn”. Các bạn đồng ngũ còn sống đã lên một kế hoạch gồm những việc phải làm như xây mộ, dựng bia cho người đã hy sinh, quyên góp quần áo, dụng cụ gia đình cho những người dân đang còn nghèo khó tại đồi Chè, dò gỡ bom mìn còn sót lại sau chiến tranh để người dân có 1 cuộc sống bình yên, no ấm… những điều mà chúng tôi dự định làm chính là những điều mà vì nó, ngày xưa chúng tôi cầm súng, vì nó mà bạn bè chúng tôi đã hy sinh. Chúng tôi còn băn khoăn làm sao cùng góp, lo có khoản tiền lớn để làm những việc này. Ngoài tấm bia kỷ niệm, anh em chúng tôi đã có kế hoạch quyên góp, xây tặng người dân ở đây một cây cầu dân sinh theo tâm nguyện. Nhất định chúng tôi sẽ làm, dù có thể không làm hết được…
TH st.

Thứ Hai, 10 tháng 1, 2011

LỚP 10G NHỚ BẠN

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi nhớ của lớp tôi về những người lính đã hy sinh vẫn chưa nguôi ngoai…


Khi chưa đến mùa thi
Hoa phượng còn dang dở
Bạn tôi xếp bút nghiên
Khoác ba lô ra trận
Chia tay cười rất đậm
Đến giờ còn nghe vang.

Chiến trường nhiều khói lửa
Cánh rừng, dày hố bom
Máu loang, dòng suối chảy
Bạn tôi mười tám tuổi
Từ buổi ấy không về…

Chao ơi mùa thi đến
Hoa phượng còn rưng rưng!
Thương bạn khi nằm xuống
không kịp về đi thi.


Lớp mình, ngày gặp mặt
Bạn không về liên hoan
Bát cơm, nhòa nước mắt
Bạn bè, thầm gọi tên…


Ngọc hà

Thứ Sáu, 7 tháng 1, 2011

Gác bút nghiên lên đường chiến đấu

Báo Quân đội nhân dân online có đăng bài viết về liệt sĩ Y Hòa k7, Nguyễn Lâm k5 và các liệt sĩ HN khác hy sinh tại chảo lửa Quảng trị trong những ngày hè đỏ lửa. Đáng lẽ bài viết này được đăng trên báo giấy nhưng không kịp ngày thương binh liệt sĩ 27/7. Bài do Sơn, bạn cùng khu TT 5B-Hoàng hoa Thám với Y Hòa và cũng là bạn của chúng tôi kể lại. Sơn là người luôn đau đáu đi tìm mộ của các bạn,để đưa các bạn về với gia đình. Chính Sơn và các đồng đội dựng cái am để thờ các liệt sĩ đã hy sinh tại đồi Chè (Cháy) Quảng Trị. Xin giới thiệu bài viết của Phan đức Tuấn do Sơn kể lại.

Quảng Trị: Linh thiêng đêm tri ân các anh hùng liệt sĩ
Nguồn:http://www.tin247.com



"QĐND Online- Tổ quốc bị chia cắt, như bao người con khác của cả nước, có một nhóm những người bạn học ở Khu tập thể Hoàng Hoa Thám (Ba Đình, Hà Nội) cùng nhau nhập ngũ. Họ xung trận, chiến đấu ở nhiều chiến trường, trong đó có trận chiến ác liệt ở Thành cổ Quảng Trị. Đất nước nở hoa chiến thắng, không ít trong số họ mãi nằm lại trong lòng đất, gia đình, đồng đội chưa thể đón họ về…Bởi thế, những người còn sống luôn trăn trở, họ làm mọi cách để đi tìm đồng đội của mình…Câu chuyện dưới dây là một ví dụ do Đại tá Phan Đức Tuấn, nhân vật trong bài, đồng thời cũng là “đồng tác giả”, hiện là Phó Tư lệnh Binh chủng Công binh cung cấp. Báo Quân đội nhân dân Online xin giới thiệu với bạn đọc"…

Đồng đội và người thân xác định nơi các liệt sĩ hy sinh
Chúng tôi sống cùng nhau từ bé do bố mẹ chúng tôi làm cùng cơ quan, cùng là cán bộ miền Nam tập kết, chúng tôi lại cùng ăn, cùng ở, cùng học một lớp với nhau nên chúng tôi thân nhau chẳng khác anh em một nhà. Trước khi về sống với bố mẹ ở Hà Nội, chúng tôi đã sống cùng với nhau trong trường nhi đồng học sinh miền Nam và các trường khác, theo trường đi sơ tán hết nơi này đến nơi khác trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của Mỹ. Nguyễn Chấn Hưng quê nội ở Quảng Nam, quê ngoại ở Bình Định. Y Hòa là người dân tộc Ê Đê, quê ở Đắc Lắc, cả hai cùng sinh năm 1954, hơn tôi 1 tuổi. Chấn Hưng tính hiền lành, hay hát, Y Hòa hiếu động, chăm chỉ tập võ và vui nhộn, cả trường học sinh dân tộc miền Nam ai cũng biết. Tôi quê ở Quảng Nam, tuy nhỏ hơn một chút nhưng cũng có lúc làm ba mẹ không khỏi lo lắng vì những trò nghịch dại dột, thỉnh thoảng trốn học đá bóng, đi bơi… Sau khi Mỹ tuyên bố ngưng ném bom từ vĩ tuyến 17 trở ra, năm 1969 chúng tôi lại trở về Hà Nội sống với gia đình trong khu tập thể 5B Hoàng Hoa Thám-khu Ba Đình, Hà Nội. Đó là khu tập thể của Ủy ban dân tộc Trung ương, nơi bố mẹ chúng tôi công tác. Về Hà Nội chúng tôi cùng học chung với nhau ở trường cấp 3 Nguyễn Trãi. Nơi đó chúng tôi lại có chung biết bao kỷ niệm đẹp về tình bạn tuổi mới lớn và những rung động đầu đời khi chợt thấy cô bạn gái cùng bàn bỗng trở nên xinh đẹp một cách kỳ lạ trong một chiều Hà Nội cuối đông. Tôi vẫn nghĩ không gì có thể chia cắt được tình bạn keo sơn của chúng tôi cho đến cuối đời…
Đầu năm 1972 học sinh, sinh viên Hà Nội đi bộ đội nhiều lắm. Cả nước đang dồn sức cho trận đánh quyết định ở Quảng Trị. Hưng có giấy gọi nhập ngũ. Tôi và Y Hòa bàn nhau xung phong đi cùng, chúng tôi không muốn xa nhau và cũng chẳng thích ngồi học trong khi bạn bè đã ra chiến trường cả. Chúng tôi kéo nhau đến nhà từng đứa để thuyết phục ba má. Chẳng có bà mẹ nào muốn cho con đi vào nơi hòn tên mũi đạn nhưng dường như việc 3 đứa cùng đi bộ đội một lần làm ba bà mẹ yên tâm hơn. Các ông bố thì tỏ ra rất hài lòng vì chợt thấy lần đầu tiên đứa con trai của mình lại trở nên nghiêm túc đến vậy.
Ngày 6-1-1972, ba chúng tôi từ giã tuổi học sinh, từ biệt gia đình vào bộ đội bắt đầu một cuộc sống mới sẽ gian khổ trong tập luyện và khốc liệt nơi chiến trường. Khu phố Hoàng Hoa Thám và học sinh các trường đại học, các trường phổ thông đi đợt này đông lắm. Chúng tôi gặp cả bạn bè, gặp cả các “đối thủ” trên sân bóng, gặp cả những đứa đã từng nện nhau tím mặt tím mày với chúng tôi trên đường phố. Khoác áo bộ đội, chúng tôi trở thành đồng đội, thành anh em sinh tử có nhau. Cùng nhập ngũ với tôi, Hòa và Hưng đợt ấy còn có Thái Hòa, Lương Hòa (hai Hòa ở lại đơn vị ngoài Bắc) cùng khu tập thể và Quyết, Vinh (cùng trường Nguyễn Trãi) và Đức ở Ngọc Hà… Vũ Trung (con trai bác Vũ Kỳ, thư ký Bác Hồ), Khoa, Hiển, Long… ở Thụy Khuê; Toàn, Hiếu, Long “đen” ở Bưởi… và có cả Lê Văn Nho (nhà ở 46 Hoàng Hoa Thám), Thấn cùng Hải (người dân tộc Khơ-me) bạn học lớp 10E và Đạt, Vỹ, Hai bạn Thắng ở Lý Nam Đế, Phương Bình ở Tràng Thi, Lâm ở Phan Đình Phùng (đang học đại học Thuỷ lợi thì nhập ngũ, sau chuyển sang Trung đoàn 56 và bổ sung vào Sư đoàn 325) vào bộ đội đã thân nhau và nhiều bạn khác mỗi khi nhắc lại đều thân thương.
Chúng tôi được huấn luyện tăng cường ở Đại đội 42, Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 59 Bộ tư lệnh Thủ Đô. Đến khoảng tháng 5, 6 năm 1972 thì được về phép thăm nhà 7 ngày để lên đường đi B. Ngày cuối của đợt về phép mẹ tôi chạy vạy khắp nơi để tìm mua 3 cái phao bơi cho ba đứa. Hồi kháng chiến chống Pháp, bà tham gia cách mạng và thường rất sợ mỗi khi phải bơi qua sông. Chúng tôi cũng chẳng biết đêm cuối bên những đứa con trai của mình, ba bà mẹ đã khóc hết bao nhiêu nước mắt, cũng không đứa nào biết được đó là lần cuối cùng Y Hòa, Hưng, Nho… và bao nhiêu chàng trai Hà Nội khác được nhìn thấy mẹ.
Tháng 7-1972 chúng tôi lên tàu hỏa tại ga Thường Tín-Hà Tây, đi ô tô qua các binh trạm hành quân vào đến một làng ven sông Lam ở Thanh Chương, Nghệ An, rồi bổ sung vào Sư đoàn 312. Chúng tôi không được ở cùng đại đội như khi hồi nhập ngũ nữa, tôi về Tiểu đoàn 17 Công binh, Hưng, Y Hòa và Vũ Trung về Đại đội 16, Trung đoàn 209. Thật ra ban đầu Y Hòa được biên chế về thông tin nhưng cán bộ đơn vị thấy trên tay có hình xăm xanh lè nên có ý không thích. Y Hòa cũng không tự ái gì mấy và nguyện vọng tha thiết xin được vào đơn vị cầm súng chiến đấu chứ không muốn ở tuyến sau. Sư đoàn chúng tôi hành quân theo đường binh trạm vào đến khu rừng ở huyện Quảng Ninh-Quảng Bình, trước khi xuống huyện Lệ Thủy để đi vào T70 (Bãi Hà). Chúng tôi gặp nhau lần cuối ở đó. Chiều hôm ấy ở ven một cánh rừng binh trạm, tôi cùng Hưng, Y Hòa và Vũ Trung ngồi bên nhau, chia sẻ cho nhau những gì còn lại sau chặng đường hành quân, dặn dò nhau nhiều điều. Lúc chia tay, hình như linh cảm xấu mách bảo tôi điều gì. Trong khi các bạn chỉ rơm rớm nước mắt thì tôi lại bật khóc như mưa, như gió. Suốt cả cuộc đời, chưa có bao giờ tôi lại khóc nhiều đến vậy. Y Hòa và Hưng dụi cặp mắt đỏ hoe, ôm lấy tôi ra sức an ủi. Chiều sẫm dần, tôi cố nén khóc men theo con đường rừng trở về vị trí dừng chân của trung đội, đi một quãng xa ngoái lại còn thấy hình dáng ba người bạn nhập nhòe trong bóng tối đang lan tỏa từ bìa rừng rồi lẫn vào hoàng hôn tím sẫm.

Tiểu đoàn công binh 17 cử 1 trung đội đi lẻ, phối thuộc ở Trung đoàn 165 và bảo đảm cho một bộ phận sư đoàn bộ vào trước chỉ huy tại Quảng Trị. Từ cuối tháng 7-1972 tôi theo trung đội làm nhiệm vụ khắp các vùng phía tây bắc thành Quảng Trị. Hết làm hầm chỉ huy ở khe Trai, khe Cóc, làm công sự tại Phượng Hoàng, Ái Tử, Đá Đứng… và các chốt, lại đi bố trí mìn, tham gia chốt cùng bộ binh trên những điểm chốt vùng bên Tân Lệ, Tân Mỹ, các chốt ven sông… Có một buổi chiều đầu tháng 9-1972 ở Ái Tử, tiểu đội trưởng nói tiểu đội tôi phải ở đây để sẵn sàng sang sông vào Thành đi với thủ trưởng. Khi chúng tôi đã đào xong hầm ven nền đường sắt, tiếng bom đạn cũng đã ngớt, tôi cùng Nguyễn Trọng Hưng, người ở Ninh Hiệp-Gia Lâm rủ nhau ra khỏi hầm đi kiếm mấy ngọn rau dại ăn cho đỡ xót ruột. Chúng tôi thận trọng bò sát mặt đất trườn xuống bãi đất vì tại đấy pháo địch bắn nhiều, OV10 bay suốt ngày trên đầu. Cạnh bờ sông nơi duy nhất, không hiểu sao còn có được chút màu xanh cây cỏ. Tôi đang ra sức ngắt thật nhiều những ngọn rau tàu bay và những nắm rau lá lốt nhét vào cái túi mìn Claymore đeo bên sườn thì chợt nghe Trọng Hưng gọi: “Sơn ơi, lại đây này”, tôi lom khom chạy lại. Trọng Hưng đang nằm phủ phục bên một dãy mộ 5 ngôi đất đắp còn mới nguyên, mỗi chiếc mộ có dựng một tấm bia bằng vỏ thùng lương khô, các tấm bia đều được đục tên các liệt sĩ, quê quán, đơn vị, nét đục bằng đinh tống chốt trong bộ phụ tùng khẩu AK trông thật vội vã, xiên xẹo.

Hưng chỉ cho tôi một tấm bia đề “Nguyễn Trọng Hiệp, Gia Lâm-Hà Nội, đơn vị Pháo binh” và nói giọng nghèn nghẹn: “Sao mà giống tên anh tao quá, cũng ở Gia Lâm, cũng ở Pháo binh mày ạ, lẽ nào…”.

Tôi cố át đi: “Thiên hạ thiếu gì người trùng tên. Chắc không phải đâu” nhưng rồi cả hai đều im lặng. Chúng tôi bốc đất bằng tay đắp điếm thêm cho mấy ngôi mộ, cũng chỉ là nghi thức chứ không đắp được cao hơn vì chỉ có tay không…

Mấy hôm sau trung đội tôi nhận lệnh về bến Đá Đứng, sông Ba Lòng, bờ bên Triệu Phong, bên kia là cuối thôn Như Lệ, Tân Lệ, Tân Mỹ gì đó để làm nhiệm vụ bảo đảm bến, chèo thuyền cao su vận chuyển đạn dược qua sông tiếp cho các đơn vị chốt bên thôn Như Lệ, Tích Tường, La Vang, động Ông Do, cao điểm 52. Đạn chở qua sông chủ yếu là H12, cối 60, 82, đạn 12,7mm, mìn ĐH 7… lúc này bên bờ sông thấy các đơn vị của Sư đoàn 325 về chốt cùng khu vực bên này sông với chúng tôi và tăng cường bên Như Lệ, Tích Tường, vì địch có ý định nống ra, sang bờ bắc sông Ba Lòng…

Tôi cũng chẳng phải là người thạo nghề sông nước gì nhưng đã từng bơi thuyền Peritxoa ở Hồ Tây nên được giao việc này. Việc chèo thuyền qua sông chỉ vào ban đêm dưới đạn pháo thật nguy hiểm, do bến bị lộ. Bên cao điểm 29 nhìn thấy bến, OV10 quần trên đầu từ sáng sớm, cho đến tối phát hiện được gì lại bắn pháo khói, gọi F4 đến ném bom hoặc chỉnh cho pháo dàn bắn, ngày nào cũng bị pháo dàn bắn đôi lần, hình như nằm trong bãi tọa độ, tuần nào cũng bị B52, vì mỗi lần bị B52 thì tại bến và chỗ hầm của trung đội bao giờ cũng bị dính loạt 3, còn loạt 1, 2 bên Như Lệ, các chốt bên Hải Lăng.

Mùa mưa nước sông chảy xiết, sang được đúng bến bờ kia thuyền trôi vài trăm mét là thường và vất vả lắm, trung đội không ai biết chèo thuyền nên tôi đảm nhiệm. Công việc này tuy nguy hiểm do đạn pháo bắn tại bến sông thường xuyên nên chúng tôi hay vớt được cá và có cơ hội kiếm được thuốc lào, thịt hộp để cho anh em trung đội cải thiện. Thỉnh thoảng tôi còn được gặp bạn nhưng chủ yếu là những người bị thương ở chốt, chuyển ra trạm phẫu. Có lần nhận được thư trên chốt, do đội vận tải đưa, thư viết nghuệch ngoạc, các đồng chí ấy trách sao chỉ có đạn mà không có thuốc lào và thịt hộp, mắm tôm… vừa buồn, vừa thương đồng đội, vì mình cũng chả có. Ở chốt còn có thể đi đâu được, làm được gì để cải thiện.

Lần nào chở đạn sang sông tôi cũng tìm cách dò hỏi tin tức của Hưng, Y Hòa, Nho và Vũ Trung những người bạn thân mà chẳng biết được gì. Tôi ở cách đồi Cháy chỉ khoảng 300m đường chim bay thế mà chẳng gặp được các bạn tôi. Cho đến một hôm khi chở thương binh từ phía bên Như Lệ về, tôi gặp một anh bạn cùng nhập ngũ, sau này gặp nhau kể lại mới nhớ tên là Quyết mới được biết Y Hòa và Chấn Hưng, Nho, Long “đen”, Long “cai”, Hiếu… đã hy sinh trong các trận đánh giữ chốt ở đồi Cháy làng Như Lệ và các nơi khác. Tôi đau đớn quá, nhưng không hiểu sao lại không khóc nhiều như lúc chia tay, có lẽ những trận đánh ác liệt, nhìn thấy đồng đội hy sinh nhiều đã làm chúng tôi trở nên cứng rắn hơn, cũng có thể nỗi đau ấy đã lặn vào trong sâu thẳm tâm hồn mà hút cạn khô nước mắt người lính trẻ chúng tôi.
Đại tá: Phan Đức Tuấn
Ngô Thái Hòa giới thiệu

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Kỷ niệm về các Liệt sỹ

Y Hòa K7 Trỗi-K22 Nguyễn Trãi Hà nội,


Nguyễn Chấn Hưng K22 Nguyễn Trãi Hà nội


và Ngô Tất Thắng K7 Trỗi-Cựu hs Chu Văn An Hà Nội.


Nhân ngày thành lập QĐNDVN 22-12 nhớ về những người bạn cùng quân ngũ
như Y Hòa, Nguyễn Chấn Hưng K22 Nguyễn Trãi Hà Nội.


Ngô Thái Hòa



Kỷ niệm không thể nào quên với những người lính Học sinh trường Nguyễn Văn Trỗi anh hùng như Liệt sỹ Y Hòa (Mlo dzuon dzu) K7 , Liệt sỹ Ngô Tất Thắng K7 và Liệt sỹ Nguyễn Chấn Hưng K22 trường Nguyễn trãi Hà Nội.




Ngày 06.01.1972 học sinh, sinh viên Hà Nội chúng tôi nhập ngũ một lúc 25 tiểu đoàn bộ binh,sau khi chúng tôi nghe lời kêu gọi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc ở núi Nùng, Bách Thảo, Hà Nội. Lớp trẻ Thủ đô ngày đó sục sôi bầu nhiệt huyết muốn đem sức trẻ phụng sự Tổ quốc và công cuộc giải phóng dân tộc nên hầu hết chúng tôi đều viết đơn tình nguyện nhập ngũ,nhiều bạn còn viết đơn bằng máu của chính mình thể hiện quyết tâm đi giải phóng miền nam như Y Hòa(Học sinh lớp 9H và 10G K22 Nguyên Trãi Hà Nội cùng tôi), Vũ Trung, Ngô Tất Thắng...
Tôi được biên chế vào Đại đội 42, tiểu đoàn 54, trung đoàn 59 quân tăng cường cho mặt trận Quảng Trị của Bộ tư lệnh Quân khu Thủ Đô. Đại đội tôi có những học sinh trường Trỗi như Y Hòa K7(em của Y Nguyên K5, GS-TS hiệu phó Trường Đại học Tây Nguyên, nay về hưu, đang tu tập Phật học và võ công ở Trúc Lâm thiền viện, Quảng Ninh), Ngô Thái Hòa K6+7, Ngô Tất Thắng K7, Vũ Trung K8, Hồ Phương Bình K7, Phan (xy) K7, Nguyễn Trường Vỹ (gỗ) K7,...và có rất nhiều học sinh trường PTTH Nguyễn Trãi và Chu Văn An Hà Nội như Nguyễn Thanh Sơn, Nguyễn Lương Hòa, Nguyễn Chấn Hưng,...Chúng tôi tập trung ở Tây Mỗ và Đại Mỗ Hà Nội khám sức khỏe lần cuối và phát toàn trang thiết bị súng ống đạn dược sau đó đi bộ 70km lên Bãi Nai, Lương Sơn, Hòa Bình. Y Hòa do bi viêm cầu thận cấp, có biểu hiện áp huyết rất cao, được nữ bác sỹ K.Ny (V 108) khám và quyết định trả về đi học tiếp, nhưng Y Hòa kiên quyết xin được nhập ngũ để được đi miền Nam chiến đấu.

Sau hai ngày đi bộ lên đến nơi là bãi đất trống, chúng tôi hạ ba lô là vác xẻng quân dụng vào rừng chặt cây, tre, nứa về dựng lán trại, sau đó là những tháng ngày luyện tập kỹ chiến thuật đáp ứng cho chiến trường phía nam. Y Hòa và Ngô Tất Thắng luôn luôn là những chiến sỹ gương mẫu trong rèn luyện, nắm vững kỹ chiến thuật, thương yêu đùm bọc đồng đội, nhất là những đồng đội là bạn Trỗi thời thơ ấu. Trong đợt bắn đạn thật bia số 4 cự ly 100 mét và bia số 7 cự ly 200 mét ( bắn đêm), Y Hòa và Ngô Tất Thắng đều đạt thành tích xuất sắc, được biểu dương toàn tiểu đoàn .Hồi đó Y Hòa đã có người thương là Hoàng Dung, cô bạn cùng lớp 10G trường PTTH Nguyễn Trãi, Ba Đình, Hà Nội, nhưng Y Hòa rất kiên định và không bao giờ tỏ ra yếu đuối và biểu lộ sự nhớ nhung thái quá ra ngoài. Ngô Tất Thắng thì sôi nổi và mơ mộng hơn, bận thì thôi, rảnh là Thắng viết nhật ký hay viết thư, hành quân mệt đến đâu, nhưng hạ ba lô là thấy Thắng hý hoáy viết hay ghi chép rồi. Người nhận thư nhiều nhất đơn vị là Ngô Tất Thắng, vì ngày nào Thắng cũng viết thư và nhận thư của Tg BH K7, học sinh của trường PTTH Chu Văn An, Ba Đình, Hà Nội và bạn bè gần xa. Trong đại đội 42 Vũ Trung là người đẹp trai nhất, có tài dạy chó, bất cứ con chó nào của dân bản hay của đơn vị đều quấn quýt và nghe lệnh của Vũ Trung răm rắp. Nhưng người lính đào hoa nhất đại đội là Hồ Phương Bình, thứ bảy hay chủ nhật nào Hồ Phương Bình cũng có vài bóng hồng từ Hà Nội lên thăm hỏi động viên. Mình , Nguyễn Chấn hưng ...và Nguyễn Trường Vỹ không có ai thăm hỏi nên thường hay ra bờ suối gần đơn vị tâm sự nhớ về những bạn bè trường Trỗi và PTTH ở Hà Nội mà cả hai cùng có nhiều kỷ niệm chung thời thơ ấu. Nguyễn Chấn hưng , Nguyễn Lương hòa,Y Hòa và Nguyễn thanh Sơn cùng ở khu tập thể 5B Hoàng hoa Thám Hà nội cùng với tôi. Nguyễn Chấn Hưng hiền lành ít nói và hay giúp đỡ đồng đội lúc kho khăn, một tiểu đội phó gương mẫu của C42D54E59 quân tăng cương cho Mặt trận Quảng Trị của BTL Thủ Đô năm 1972. Nguyễn Chấn hưng hay hát và hát cũng rất hay. Sau bảy tháng huấn luyện tích cực và căng thẳng ở Bãi Nai, Lương Sơn và Tân Lạc, Hòa Bình, chúng tôi lên đường bổ xung cho mặt trận Quảng Trị.


Trên đường vào Nam, tôi được lệnh chuyển đơn vị gấp theo sự điều động của cấp trên. Không kịp chia tay với những anh em Trỗi khác, chỉ kịp gặp và chia cho Y Hòa, Chấn Hưng, Thanh Sơn thuốc tăng lực và sâm Cao Ly, đồng thời hẹn gặp lại các bạn khi chiến tranh kết thúc, khi giải phóng miền nam. Thật không ngờ đấy là lần gặp mặt cuối cùng với Y Hòa và Chấn Hưng, hai bạn đã anh dũng hy sinh và vĩnh viễn nằm lại Quảng Trị. Báo của sư đoàn 312 sau đó có đăng tin biểu dương gương chiến đấu vô cùng dũng cảm và kiên định của Y Hòa, trung đội trưởng trung đội hỏa lực 12 ly 7 đã quyết tử khi chốt chận trên Đồi Cháy gần thành cổ Quảng Trị,hy sinh ngày 15 tháng 10 năm 1972. Đối với Ngô Tất Thắng, sau khi giải phóng miền nam, Thắng theo học lớp Báo chí khóa 2 của khoa Báo chí trường Nguyễn Ái Quốc TƯ, rồi về làm phóng viên của báo Quân đội nhân dân. Bạn đọc trong cả nước và bạn bè gần xa háo hức chờ đợi những tác phẩm tiếp theo của Thắng sau khi nhà văn trẻ cho ra mắt tác phẩm "Sau cành Violet", tiểu thuyết trinh thám ái tình rất ăn khách trong thập kỷ 80, báo hiệu một ngôi sao đang dần tỏa sáng trên bầu trời văn học Việt Nam. Một buổi chiều cuối thu năm 1978 Thắng đến thăm và chia tay tôi ở 71 Hàng Trống, Hà Nội, để chuẩn bị lên đường đi chiến trường Cam Pu Chia. Khi đó tôi là thư ký tổng hợp kiêm biên tập viên Ban Nhà nước và Quốc phòng của Báo Nhân dân. Tôi tặng Thắng một cây bút bi Anh Hùng và động viên Thắng lên đường may mắn và mong bạn có nhiều phóng sự hay và nóng bỏng gửi về từ chiến trường. Sau đó nhiều bài vở và phim ảnh nóng bỏng khói súng của Thắng từ chiến trường tới tấp gửi về được báo QĐND, Nhân dân và nhiều báo đăng tải. Ngày 7 tháng 1 năm 1979 trong không khí cả nước vui mừng đón tin thắng trận từ mặt trận phía tây nam và Cam Pu Chia, thì trong buổi giao ban , cả phòng họp lặng đi chia xẻ với đại tá Ngô Từ Vân, Cục trưởng Cục Xuất bản quân đội, (Thân sinh của Ngô Tất Thắng) khi nghe tin nhà văn, nhà báo Ngô Tất Thắng đã anh dũng hy sinh khi đang thao tác nghiệp vụ của người phóng viên chiến trường trên tháp pháo của chiếc xe tăng đầu tiên tiến vào giải phóng thủ đô Phnôm Pênh của Cam Pu Chia, thành lũy cuối cùng của bọn diệt chủng Khơ me đỏ.
Từ đó đến mãi mãi về sau những bạn Liệt sĩ trường Trỗi nói riêng và những bạn liệt sỹ trường Nguyễn Trãi nói chung và các bạn Y Hòa, Ngô Tất Thắng và Nguyễn Chấn Hưng vẫn sống mãi trong tâm tưởng của anh chị em Trỗi chúng ta. Riêng tôi thì không thể nào quên những kỷ niệm thời thơ ấu ở trường Trỗi, ở trường PTTH Nguyễn Trãi Hà Nội và ở trong quân ngũ với các bạn Y Hòa, Ngô Tất Thắng và Nguyễn Chấn Hưng.
Mời các bạn vào link này tham khảo:
http://bantroi.blogspot.com/2010/07/gac-but-nghien-len-uong-chien-au.html
http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/4/232/232/118987/Default.aspx


Ngô Thái Hòa

(Ảnh thứ tự từ trên xuống dưới: Y Hòa, Ngô Tất Thắng, Nguyễn Chấn Hưng)