Hiển thị các bài đăng có nhãn Người nổi tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người nổi tiếng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Một kỷ niệm với Văn Hùng K7 Trỗi


Vụ cá độ có một không hai



Anh Thy-Bá Đạt

Nhàn cư
Hồi 1990, anh em Trỗi đi tầu viễn dương mỗi lần lên bờ hay tụ bạ cà phê cà phaó ở đường Đông Du, Nguyễn Huệ, đến trưa lại rủ nhau về quán Vy ăn cơm. Uống vào, hứng bất tử là thách đố, cá độ nhau làm nhiều chuyện “ghê khủng”.
Có lần giữa trời nắng chang chang Bắc “Belanov” (hắn có đầu hói như thủ quân này) cá cược đi bộ suốt từ Trần Hưng Đạo, q1 về sân vận động Quân khu 7 rồi quay trở lại. (Mà lại còn hạn chế thời gian!). Vậy mà hắn làm thật. Thật là điên cuồng!

Vụ cá độ
Năm 1990, Văn Hùng đã rời ngành Hải quan nên có thời gian lang thang cùng anh em. Trưa ấy, ăn nhậu đã say sưa, có người thách: đố Văn Hùng dám đạp xe từ Tp đi Vũng Tàu, nếu tới đích trọn vẹn, thì được 2 cây vàng. (Ngày đó tòan dùng vàng lá chứ chưa có vàng miếng như bây giờ mà 2 cây thì giá trị lắm!). Ỷ thế năm 1978 được phong danh hiệu "vận động viên cấp quốc gia", hứng lên Văn Hùng “OK!” liền.
Chú em Hồng “nhọn” chạy ngay về nhà mượn ông bố vợ được chiếc xe đua Pháp hiệu Peurggio. Hùng nhà ta trông rất “xì po”: nào quần đùi xẻ rãnh, nào áo ba lỗ, chân xỏ giày Adidas, kính đen che mắt… Nhưng điều kiện thi đấu cũng rất khắc nghiệt, đặc biệt suốt dọc đường đi không cho phép thò chân xuống đất (kể cả ăn uống, đi đại tiểu tiện). Anh em chia 2 phe (tả - ủng hộ và hữu – chống lại) phóng xe máy theo sau làm sup-poóc-te.
4g chiều xuất phát. Một cua-rơ dáng chuyên nghiệp gò lưng đạp sau l một chiếc xe hơi hú còi dẫn đường. Còn đám xe máy chạy xung quanh làm dân chúng nhớn nhác. Đòan xe vòng từ trung tâm theo đường Trần Hưng Đạo, Nguyễn Thị Minh Khai ra cầu SG. Chiều dần mát. Dốc đầu tiên là dốc lên cầu SG, dài mấy trăm mét, phải gồng mình lên; nhưng khi thả dốc thì băng băng. Hùng đang phấn khởi huýt sáo vang; bỗng, xích tuột! Làm sao bây giờ vì luật không cho phép thả chân xuống đất? Nhanh ý, 2 chiến sĩ cùng phe phóng xe máy lên kẹp 2 bên, tạo thành chỗ dựa hợp pháp rồi giúp Hùng lắp lại xích. Xong, lại bon bon.
Đến ngã 4 Thủ Đức thì gặp đèn đỏ. Dừng lại cũng không được. Khi bánh sát vạch sơn, Hùng cho xe quay đầu lại phía SG chạy vòng vòng. Cứ như vậy cho đến khi đèn xanh. Đến Dốc 47 mới chết, ngày ấy dốc dài chứ không như bây giờ. Nắng cũng chưa tắt, Hùng nhấc đít lên khỏi yên, gò lưng, co cẳng đạp như các cua-rơ chuyên nghiệp. Vậy mà không chịu nổi. Mồ hôi mồ kê nhễ nhại. Chân mỏi nhừ. Đúng lúc đó thấy Bắc “Belanov” phóng xe vọt lên: “Anh Hùng, đưa tay bám vào vai em. Em kéo giúp”. Mệt lắm, có lẽ phải bám thôi. Nhưng trong đầu chợt lóe lên ý nghĩ, nhỡ Bắc là phe “địch” thì sao, nó sẽ alô cho mọi người biết, mình sẽ phạm quy và hỏng luôn. Hùng xua tay từ chối. (Sau này thì đúng như giả định!). Cố gắng, cố gắng rồi cũng lên đến đỉnh dốc. Cánh bên ta phóng xe qua dội ào nước lên mình Hùng. Đã quá, như ruộng hạn gặp mưa rào!
Còn “li lái” thế nào thì mọi người đã hình dung. (Xin phép chị em phải kể ra đây chuyện này). Cứ thế mà thẳng xuống đường, theo sau bánh xe là vệt nước kéo dài cả chục mét. Và may hơn là do mồ hôi ra nhiều nên không mót đi nặng(!). Khi khát thì có ngay chanh để ngậm do anh em phục vụ. Chả khác gì đòan đua ta vẫn xem trên TV - một cua-rơ phóng phía trước còn phía sau là một đám xe máy.
Đoạn còn lại bằng hơn, hơn nữa càng về chiều càng mát, có gió biển thổi vào. Cứ thế Văn Hùng túc tắc phóng về đích. Từ ngã 3 Bà Rịa, chú em Thọ phóng lên động viên: “Anh cứ duy trì tốc độ như các tay đua chuyên nghiệp!”. Theo dõi qua đồng hồ của xe Thọ thấy tốc độ ổn định 25, 27 km/h.
Qua sân bay trực thăng, qua cảng dầu khí, tới sân vận động Vũng Tàu thì Văn Hùng dừng lại, vác xe lên vai, chạy bộ một đọan “làm le”. Sau này Văn Hùng tâm sự cảm thấy 2 chân nhẹ bẫng như đi trên đệm bông, lao phăm phăm về đích.
Đích đến là khu biệt thự Sông Hồng. Đến tới nơi thì Hùng cũng sức cùng lực kiệt, rũ xuống như một cái khăn rách. Hắnkhông thể tự lên phòng mà phải có 2 người xốc nách khênh lên. Cánh “tiền trạm” đã book sẵn 2 em mat-xa, xoa bóp. Hai chân Văn Hùng mất cảm giác hòan toàn. Tê dại. Cả đến “cái ấy” (sau này hắn gọi là “ông giám đốc nhà máy nước”) cũng hầu như tê liệt. Hùng rên rỉ với 2 em: “Thế này thì chết rồi! Sao mà anh dại đến thế, tham dự cá cược vớ vẩn mới nên nông nỗi này!”. Tự nhiên thấy vương vướng dưới quần và 2 chân không thể khép lại. Thôi chết rồi, do chổng mông đạp vượt dốc quá dài mà đít lòi cả rom. Với mọi khả năng của mình, 2 em xoa bóp quyết liệt. Anh em bên ngòai phe Văn Hùng thì hể hả vì đã thắng được 2 cây vàng, còn Hùng thì ngủ li bì…
Sáng hôm sau, anh em cho Hùng lên xe hơi, còn xe đạp thì tống vào sau cốp phi về Tp. Hùng nằm liệt 2 tuần. Khoảng hơn tuần, Đạt “bột” chờ mãi không thấy Văn Hùng xuất hiện liền mò tới thăm và ra điều kiện: “Qúa 10 ngày mà mày không ra là tụi tao xù!”. Văn Hùng quá vui vì chiến thắng nên hứng chí: “Thôi, tao không lấy đâu. Vui là chính mà!”. Còn Hiền thì giận vì sự ngông cuồng của chồng.

Vĩ thanh
Sau này anh em tổng kết:

- Giá mà xuất phát từ lúc 2g,
- Giá mà không dùng xe “cuộc” Pháp mà chọn đi xe Phượng Hoàng,
thì Văn Hùng sẽ thua là cái chắc!
Riêng Văn Hùng sau chuyến cá độ này mới biết thế nào là “Hoa hậu”. Các bạn có biết vì sao? Có nghĩa là… hoa nở hậu (với cả 2 nghĩa đen và bóng – hoa nở sau và đúng là nở ở phía sau!). (Xin mở ngoặc: Trước đó, khi còn là trung vệ thòng CAHN hắn đã dính bệnh này. Nay khi phải “vượt đèo” trong điều kiện khắc nghiệt đã tái phát…).

Chuyện một thời trai trẻ và điên cuồng là thế, nhưng mãi không thể nào quên!

(Chuyện ghi lại hôm 1/6/08 tại Quán Tre, Ghềnh Hào, Vũng Tàu. Thầy Hồng Tuyến và anh em Trỗi được mẻ cười đến vỡ bụng).

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Tưởng nhớ nhà thơ Phạm Tiến Duật

Nhà thơ Phạm Tiến Duật 
                                                                                    (Ảnh :Nguyễn Đình Toán)





Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (trích)

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Đông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn Tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không...

Bài thơ về tiểu đội xe không kính (trích)

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất trời, nhìn thẳng

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái

Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha...



NGƯỜI ĐI LẠC TRONG HÒA BÌNH
Nguyễn QuangThiều




Đã nhiều lần tôi nói rằng : nếu chọn một nhà văn Việt Nam để dựng tượng trên đường mòn Hồ Chí Minh thì tôi chọn nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mà không chỉ mình tôi chọn ông. Rất nhiều người được hỏi đều chọn ông. Suốt mười mấy năm chiến tranh, ông đã đi dọc con đường mòn Kỳ lạ ấy, đi và làm thơ trong bom đạn, trong máu chảy. Hình ảnh ấy luôn luôn ám ảnh tôi. Và tôi không làm sao lý giải đầy đủ được con đường của thi ca trong con đường bi tráng ấy. Nhà thơ Mai Văn Phấn đã nói với tôi : Phạm Tiến Duật là người đã mang đến cho thi ca trong những năm tháng chiến tranh một đời sống mới cả về thi pháp lẫn nội dung. Mai Văn Phấn hoàn toàn đúng. Bởi đấy là sự thật. Có lẽ không bao giờ còn có một nhà thơ được tất cả các Uỷ viên Bộ Chính Trị mời cơm khi ông trở về từ chiến trường. Cũng không còn có một nhà thơ nào như ông được những người lính nói : “ Chúng tôi tựa vào những câu thơ của Phạm Tiến Duật để đi vào mặt trận”. Và như thế, ông đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của một người lính và của một nhà thơ trong chiến tranh.

Tôi nhớ mãi một câu chuyện về những người lính giữ chốt trên một quả đồi ven đường mòn Hồ Chí Minh trong chiến tranh. Họ bị bao vây. Những đơn vị ở bên ngoài không thể nào tìm cách tiếp cận được họ ngoài hệ thống liên lạc bằng điện đài. Khi cấp trên hỏi họ cần gì thì họ trả lời : “ Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật”. Những người lính trên điểm chốt ấy biết rằng có thể tất cả họ sẽ hy sinh. Cái cần nhất lúc đó đối với họ không phải là thức ăn, nước uống. Cái cần nhất đối với họ trước cái chết là một bài ca của sự sống vang lên đôi lúc như một bản thánh kinh. Thơ của Phạm Tiến Duật không phải là một bản thánh kinh. Nhưng nó là một là một điều gì đó kỳ lạ của thời điểm ấy. Một bộ phận được phân công chuyển thơ của Phạm Tiến Duật lên điểm chốt đó. Bộ phận này đã tháo thuốc nổ trong một đầu đạn súng cối và cho thơ Phạm Tiến Duật vào đó rồi bắn lên chốt. Đây là một câu chuyện có thật. Nhưng khi được kể lại, nó đã trở thành huyền thoại. Câu chuyện đó là một hiện thực huyền thoại. Đấy là một hiện thực chứa đựng sự kỳ diệu lộng lẫy của thi ca và đời sống tinh thần của con người ở bất cứ nơi nào trên thế gian này. Nhưng bây giờ, có ai còn xúc động đến lạnh người khi nghe câu chuyện này như tôi đã từng trước kia không ? Bây giờ thi ca nhiều lúc không còn mảy may bóng dáng trong đời sống của quá nhiều người. Tất cả những điều kỳ diệu ấy như đã trở thành cổ tích tự lâu rồi. Và ngay chính đối với tác giả sinh ra những câu thơ ấy, tôi cứ nghĩ rằng : có những lần tỉnh rượu giữa khuya khoắt đã ngờ vực chính mình và tự hỏi : có thật là mình đã đi qua những năm tháng như vậy không ?

Trong những năm ở đường mòn Hồ Chí Minh với quá nhiều thiếu thốn và nhiều lúc đói như điên dại, nhưng nhà thơ Phạm Tiến Duật đã được chu cấp đầy đủ như một vị tướng. Người nhìn ra một trong những tài sản quý báu nhất và có sức mạnh nhất của thi ca khi con người đứng giữa gianh giới của sự sống và cái chết lại không phải là một nhà nghiên cứu hay là một nhà thơ mà lại là một người lính - ông Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh đường mòn Hồ Chí Minh và là Uỷ viên Bộ Chính Trị sau này. Nhưng bây giờ, nhà thơ không còn được coi trọng và thần thánh hoá như những năm tháng trước kia. Nhiều lúc tôi cứ hỏi tại sao bây giờ những vẻ đẹp của ngôn ngữ và giá trị nhân văn chứa đựng trong ngôn ngữ ấy lại không còn bao ý nghĩa trong đời sống con người nữa. Có rất nhiều lý do, nhưng có một lý do mà tôi nhận ra là những người mang danh nhà thơ đã không sống với sự chân thành, lòng đắm mê và dâng hiến như thuở trước đối với cuộc sống và đối với thơ ca.

Phạm Tiến Duật trở về từ chiến tranh. Ông ở trong một căn phòng tồi tàn ở Ngõ Yên Thế. Một căn phòng mà lối đi qua căn phòng đó là lối đi để đến một cái nhà vệ sinh tồi tàn của mấy hộ cùng ở trong ngôi nhà đó. Đấy là ngôi nhà của gia đình vợ ông. Căn phòng vợ chồng ông và hai cậu con trai ở ngõ Yên Thế. Tôi đã từng đến ngôi nhà ấy và dù cho lãng mạn đến thế nào tôi vẫn phải tự hỏi : tại sao ông có thể sống ở một nơi chật chội và thiếu thốn mọi thứ như thế. Mãi đến sau này, tôi mới có thể tìm được một lý do, cho rằng lý do đó cũng thật mơ hồ để lý giải vì sao một nhà thơ danh tiếng lẫy lừng như ông vẫn sống trong một điều kiện quá khó khăn sau khi chiến tranh đã kết thúc quá lâu. Tôi từng chứng kiến những người yêu quí thơ ông mang đến cho gia đình ông từng bao tải mùn cưa để nấu nướng. Trong khi đó, rất nhiều nhà thơ khác đã xây dựng lên một cơ ngơi đàng hoàng và chăm chút cái tổ ấm của họ hơn cả chăm chút thơ ca. Còn Phạm Tiến Duật vẫn trôi lang thang với thơ ca như một đám mây. Đám mây ấy chỉ biết có bầu trời. Đám mây ấy chỉ biết nó đang trôi trong tự do vô tận nhiều lúc như một bản năng khó kìm giữ. Bây giờ nhiều người vẫn nhắc lại hồi đó, tổ chức đã chuẩn bị đặt ông vào một vị trí rất cao : Bí thư thứ nhất Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nếu ông chỉ cần nghĩ đến điều đó bằng 50% của các nhà văn nhà thơ khác thì ông có thể ít nhất đã là một Bộ trưởng. Nhưng thơ ca và bản tính tự do của một thi sỹ đã kéo ông đi như gió cuốn đám mây trên bầu trời kia. Bản tính của một thi sỹ đích thực đã làm ông quên đi tiền bạc, quên đi nhà cửa, quên đi quyền chức và nhiều lúc quên đi cả vợ con mình. Tôi đã từng nghe một số nhà thơ nói ông khôn. Nhưng than ôi, nếu khôn thì vợ con ông đã không phải sống trong một căn hộ 26 mét vuông trên tầng năm của một khu chung cư tồi tệ nhất Hà Nội. Nếu khôn thì ông đã không nhận cái chức Tổng biên tập của Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Một tạp chí chẳng mấy ai đọc và chẳng biết làm thế nào để có thêm 300.000 đồng ăn trưa. Nếu khôn thì ông đã không bỏ đi chơi theo bạn bè quên cả sinh hoạt Đảng để ông không thể trở thành Đàng viên chính thức trong lần kếp nạp Đảng thứ nhất. Đã khôn thì ông không phải để một thằng em và cũng là một cậu học trò, một đàn em thơ ca là tôi và những người kém tài kém đức hơn ông ngồi xét xem ông đã đủ tiêu chuẩn vào Đảng hay không ? Với tôi đó là sự cay đắng không phải của ông mà của chính tôi.

Trong chiến tranh, con đường của ông cũng như của bao nhà văn , nhà thơ khác là một con đường thẳng xuyên qua bom đạn, xuyên qua cái chết. Ông đã đi đúng con đường ấy và không hề lạc bước một ngày cho đến ngày chiến thắng. Nhưng khi hoà bình đến thì ông đã đi lạc. Nhiều lúc tôi vẫn nghĩ ông không nhận ra con đường trong hoà bình hoàn toàn khác với con đường trong chiến tranh. Và thế là có những nhà thơ cùng thế hệ của ông đã tìm một con đường khác còn ông lại vẫn đi trên một con đường khác. Ông mê mải đi trên con đường ấy, một con đường chỉ có trong ký ức của ông. Ông vẫn nói như hồi chiến tranh và vẫn làm thơ như hồi đó. Bởi thế mà ông từng là nhân vật trong những cuộc bàn luận trong quán bia hơi thịt chó không thiện chí của không ít các nhà thơ cùng thế hệ với ông. Ông cứ tưởng tất cả vẫn thế. Nhưng ông có biết đâu tất cả đã đổi thay mà ông không biết. Và thế là nhiều lúc ông trở lên lạc lõng trước nhiều nhà văn nhà thơ cũng thế hệ của mình. Cũng có lúc ông như người chợt tỉnh và nhận ra rằng ông đã đi xa cái thời đại mà ông đang thở trong đó. Thế là ông vội vàng chỉnh sửa. Nhưng sự chỉnh sửa của ông để cho hợp với đương thời chỉ làm ông thêm lúng túng và vụng về. Không ít người nhìn thấy ông lúng túng và vụng về trên cái sân khấu cuộc đời này thì chê bai ông. Nhưng sự lúng túng và vụng về đó lại chứa đựng sự chân thành. Và sự chân thành ấy của ông nhiều lúc đã cản đường ông và đẩy ông ra xa nhiều nhà thơ cùng thế hệ. Nhưng ông lại để lại trong lòng ít nhất một người như tôi sự xúc động. Còn những người chê bai ông lại chỉ là sự vô cảm và dửng dưng đối với tôi. Họ đã diễn quá giỏi trong những vai mà họ nhận được. Tôi có thể làm thơ với cái gọi là hiện đại hơn ông nhưng tôi đã từng không chân thành được như ông. Điều ấy làm tôi đôi lúc thấy xấu hổ.

Mấy ngày trước tôi ngồi với ông. Ông cho tôi xem bệnh án với những kết quả xét nghiệm của bác sỹ với thái độ bình thản như từng cho tôi và bạn bè xem một bài thơ vừa sáng tác. Phổi ông có khối u 35 mm với những cái chân như rễ của một củ hành. Và tôi hiểu đó là cái gì. Rồi sau đó ông cho tôi xem bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết tặng ông khi nghe tin ông mắc trọng bệnh. Ông rất xúc động vì bài thơ đó. Ông vẫn thế, vẫn đôi lúc vô tư như một cậu bé. Ông vẫn đi lạc trong trong chính thời đại mà ông đang sống. Tôi đã trò chuyện với không ít những nhà thơ của thế hệ mình. Họ vẫn luôn luôn đánh giá đúng những gì mà ông đóng góp cho thơ ca trong những năm chiến tranh. Ông mãi mãi là nhà thơ số 1 của thời đại ấy.
Chủ nhật ngày 4/12/2011

TH st.