Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký ức thời gian. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ký ức thời gian. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 3, 2014

Whatever Will Be, Will Be
(Que Sera, Sera)




When I was just a little girl
I asked my mother, what will I be 
Will I be pretty, will I be rich 
Here's what she said to me. 

Que Sera, Sera, 

Whatever will be, will be 
The future's not ours, to see 
Que Sera, Sera 
What will be, will be. 

****

When I was young, I fell in love 
I asked my sweetheart what lies ahead 
Will we have rainbows, day after day 
Here's what my sweetheart said. 

Que Sera, Sera, 

Whatever will be, will be 
The future's not ours, to see 
Que Sera, Sera 
What will be, will be. 

****

 Now I have children of my own 
They ask their mother, what will I be 
Will I be handsome, will I be rich 
I tell them tenderly.


Que Sera, Sera,
Whatever will be, will be
The future's not ours, to see
Que Sera, Sera
What will be, will be.

Doris Day

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Khúc hát nàng Solveig

Khúc hát nàng Solveig là bản aria trong vở đại nhạc kịch nổi tiếng “Peer Gynt” của 2 người con vĩ đại của dân tộc Na Uy: nhà thơ, nhà viết kịch Henrik Ibsen và nhạc sỹ Edward Grieg. Edward Grieg là nhà soạn nhạc Na Uy có ảnh hưởng nhất của nửa sau thế kỷ XIX, thời kỳ phát triển huy hoàng vào bậc nhất của thể loại nhạc giao hưởng hoàng gia. Cả cuộc đời gắn liền với thành phố Bergen dù có thời gian bôn ba nhiều nơi để đắm chìm trong đời sống âm nhạc, ngay khi sinh thời, trên cương vị một nhà soạn nhạc, một nhạc trưởng, Grieg đã trở thành bậc thầy âm nhạc Na Uy và thế giới. Ông được coi là người đã hòa quyện tài tình những truyền thống của nhạc dân tộc Na Uy với trường phái lãng mạn châu Âu đương thời.
Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam cũng đã từng dựng vở nhạc kịch này và Cố NSND Lê Dung là người thể hiện thành công nhất bản aria này:


Mùa đông dù trôi qua
Mang bóng dáng đông qua xuân về
Và nỗi nhớ anh đi chưa về.

Dù cho ở nơi ấy
Mang chiếc bóng cô đơn bên mình
Và nỗi nhớ anh đi chưa về.

Ngàn trùng dù có cách xa
Anh sẽ về rồi anh sẽ về
Lòng em luôn luôn hằng nhớ.

Tình này em xin hiến dâng,
Có bao giờ nhạt phai trong lòng
Tình em yêu anh không phai.

Dù cho ở nơi ấy
Anh vẫn sống yên vui thanh bình
Và những giấc mơ em bên mình.

Dù cho ở nơi đây
Mang chiếc bóng cô đơn bên mình
Và nỗi nhớ anh đi chưa về.

Ngàn trùng dù có cách xa,
Em vẫn chờ dù đến bao giờ,
Lòng em luôn luôn hằng nhớ.

Trọn đời em xin hiến dâng,
Có bao giờ nhạt phai trong lòng
Tình em bên anh không phai.

Âm nhạc của Grieg là hình ảnh của cuộc sống, là tâm hồn con người quê hương ông, đến từ sâu thẳm của đồng quê Na Uy, đến từ những làn điệu nhanh và vang vọng. Thưởng thức nhạc của Grieg trong thính phòng, có thể cảm thấy những tia nắng, những hơi thở của biển xanh, những ánh hào quang lấp lánh trên những mỏm băng, những dãy núi đuổi nhau từ sâu miền Tây Na Uy, nơi Grieg sinh ra và cất lên lời ca yêu thương. 
 Bạn đã từng nghe Khúc hát nàng Solveig và thưởng thức âm nhạc của Grieg, chắc hẳn bạn sẽ hiểu vì sao nhà soạn nhạc Nga Tchaikovsky lại có nhận xét này: 
 “Âm nhạc của Grieg giàu chất thương cảm đắm đuối, mang trong mình vẻ đẹp của thiên nhiên Na Uy, khi thì ảm đạm, khiêm nhường, khi thì hùng vĩ, tráng lệ, có một sức quyến rũ không tả xiết, luôn tìm thấy trong mỗi chúng ta một lời đáp đồng tình nồng nhiệt”.


Thanh Hải st

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

CHIỀU HẢI CẢNG

....Trong những ca khúc Liên Xô chúng tôi yêu thích ấy có bài "Chiều Hải cảng" của Sôlôviốp Sêđôi: 

Thành phố quí mến của tôi ơi! 
Ngày mai tôi sẽ vắng xa rồi
Trời nắng mới sáng lên
Biển khơi đón chúng ta
Trên bờ khăn xanh thắm vẫy chào ta

    Có lẽ tuổi nhỏ ít hiểu biết, có lẽ là những năm tháng trong trắng ấy, tâm hồn trong trắng đang phát triển, những năm 50 tôi chưa bao giờ thấy biển, chưa bao giờ được đi lên hạm tàu, lại càng chưa làm lính thủy, ấy thế mà hễ hát bài ca này lại thấy lòng xao xuyến, như chính mình đang ở hoàn cảnh đó, tâm hồn bay bổng. Tại hải cảng trong màn sương đêm, trước mặt là biển cả mênh mông bát ngát, sắp bắt đầu ra khơi xa, sau lưng là thành phố thân yêu, cô gái mến yêu đang vẫy chiếc khắn xanh tiễn biệt. Sao mà đẹp và thương cảm bùi ngùi đến thế, sao mà cao cả mà lại dịu hiền, bịn rịn mà lại tự do đến thế! Giai điệu ấy, tiết tấu ấy, chính là đang biểu đạt cái xốn xang của thủy triều và nhịp đập trái tim. Hơi thở của biển cả và thủy thủ, sương đêm và vẫy chào của chiếc khăn. Tôi không tách bạch được tiếng hát, tiếng thủy triều và tiếng của trái tim....

Vương Mông(Nhà văn Trung Quốc )
Trích "Sớm mai chúng tôi ra khơi xa"



 

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2012

Những bức ảnh hiếm về Hà Nội 1973


Hầu hết các bức ảnh đều được nhiếp ảnh gia Werner Schulze chụp vào tháng 3/1973 tại thành phố Hà Nội sau khi hiệp định Paris được ký kết, chấm dứt trên danh nghĩa, sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Việt Nam.
Trong khoảng thời gian này, người dân Việt Nam bắt đầu bắt tay vào công cuộc xây dựng lại đất nước sau những đợt ném bom rải thảm của quân đội Mỹ bằng pháo đài bay B52.

Dưới đây là những hình ảnh lịch sử quý giá, được trang mạng Pro.Corbis sưu tầm:
Bức ảnh chụp hố bom trên phố Khâm Thiên tháng 3/1973. Cuối năm 1972, Mỹ thực hiện khoảng 2.000 vụ ném bom vào Hà Nội nhằm tạo áp lực cho Việt Nam trên bàn đám phán Paris.

Trẻ em chơi đùa ở những hố bom trên phố Khâm Thiên.


Người đàn ông này đang đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng lại ngôi nhà của mình trên phố Khâm Thiên sau khi con phố này bị bom Mỹ phá hủy nặng nề. Ảnh được chụp tháng 3/1973.

Trẻ em Việt Nam trước một căn nhà mới ở trên phố Khâm Thiên.


Cờ đỏ sao vàng treo trên 1 căn nhà bị tàn phá vì chiến tranh ở Hà Nội tháng 3/1973.


Đường phố Hà Nội thời bấy giờ với phương tiện giao thong phần lớn là xe đạp. Chiếc xe máy hiếm hoi đến từ Cộng hòa Dân chủ Đức.


Một người công nhân chỉ đạo công trình bằng còi và dung tay ra dấu ở công trường xây dựng lại cầu Long Biên


Công trường xây dựng lại cầu Long Biên.


Hai nữ công nhân vận chuyển ngói lên xe tải ở 1 nhà máy sản xuất ngói.

Trẻ em chơi đùa tại một vườn trẻ gần Hà Nội. Ảnh được chụp tháng 3/1973.


Học sinh Việt Nam đeo khăn quàng đỏ và đội mũ ca-lô.


Ảnh chụp người dân vận chuyển hoa tại làng hoa Nghi Tàm.


Người dân Việt Nam quây quần bên gia đình ở làng hoa Nghi Tàm.


Bộ đội Việt Nam trong lễ trao trả tù binh chiến tranh.


Có 116 tù binh Mỹ bao gồm phi công và binh sĩ các binh chủng khác nhau được Việt Nam trao trả cho phía Mỹ sau khi hiệp định Paris được ký kết. Ảnh chụp vào tháng 3/1973.


(Theo Đất Việt)

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

NGƯỜI HÀ NỘI VÀ BIA

Tác giả: VŨ THẾ LONG
Tôi tiếp nhận cái văn minh “ăn rượu” từ bà và mẹ truyền cho mỗi dịp tết đoan ngọ và tiếp nhận văn minh “uống bia” từ ông nội.
Hồi ấy, tôi mới mười bốn, mười lăm tuổi, cổ còn quàng khăn đỏ, túi rỗng tuếch không có một xu thì làm gì có tiền mà rượu chè, bia bọt. Chuyện là cứ vào tiết đổi trời mùa hạ, khi bầu trời Hà Nội đầy mây ngột ngạt mong mãi chẳng có giọt mưa, cái oi bức kinh khủng làm cho ai nấy mệt rũ người. Nhìn mây trời ông tôi lo lắng, cụ bảo: “trời như thế này thì trên nguồn mưa phải biết. Cái oi này là oi nước sông sắp lên đây“. Quả vậy chỉ một hai hôm sau là nước sông đỏ ngầu từ nguồn đổ về. Dân ngoài đê sông Cái lại lũ lượt chạy vào khu Bác Cổ để tránh lụt. Người ta bảo chỗ này là đất cao nhất Hà Nội.
Những lúc ấy, ông cảm thấy mệt mỏi, khó thở. Cụ dắt tôi ra đầu phố để làm tợp bia. Đấy là lối nói của cụ mỗi khi rủ tôi đi uống. Ngay góc ngã tư đường Trần Xuân Soạn – Thi Sách, cạnh trường tư thục Lam Sơn lúc bấy giờ có một quầy giải khát nhỏ do ông Bẩy làm chủ. Quầy giải khát có mặt sàn hình vuông, mỗi chiều chừng 4 mét, tường gỗ sơn xanh, mái lợp tôn dựng ngay trên vỉa hè. Loại quầy giải khát kiểu này thời ấy được dựng lên khá nhiều ở bên bờ hồ Hoàn Kiếm dọc phố hàng Trống. Các quầy này thường bán nước chanh đá, nước dừa với những chùm dừa trĩu quả bày trước quầy chào khách. Trong quầy bán đủ thứ từ rượu bia, nước chanh cho đến các loại kẹo bánh bán cho trẻ em. Người ta xếp dăm chiếc ghế mây, vài chiếc ghế vải bên vỉa hè để khách có thể ngả lưng đong đưa ngồi hứng gió, giải khát và ngắm nhìn thiên hạ qua lại. Lúc ấy dân số Hà Nội còn thưa lắm nên những cửa hàng kiểu này vẫn được phép xuất hiện đàng hoàng trên vỉa hè, góc phố và cái thú ăn uống trên vỉa hè này là một trong những cái thú của người Hà Nội.
Ông uống bia không phải vì nghiện. Cụ uống bia cũng như uống thuốc vậy. Cứ mỗi khi trở trời oi bức, thấy khó thở, cụ lại gọi một chai bia nhỏ và “làm một tợp” cho dễ thở. Tôi đi theo cụ cho vui thôi chứ có uống gì đâu. Tất nhiên là bia gọi ra, thế nào cũng phải hai cốc. Tôi thì một cốc đá và cụ cũng san cho tý bia gọi là và hai ông cháu ngồi nhâm nhi. Ở đời hiếm người đi uống bia một mình. Có lẽ cũng vì để có người cùng uống mà cụ cho tôi – thằng cháu đích tôn đi theo cho vui cũng nên.
Loại bia mà tôi được uống lần đầu tiên trong đời là thứ bia sản xuất chính hiệu từ Tiệp Khắc được nhập vào bán ở Hà Nội từ những năm sau hoà bình 1954. Chai nhỏ thủy tinh xanh và cổ chai bịt giấy bạc trắng. Sau này, có dịp đi thăm Tiệp Khắc tôi thấy loại bia này vẫn tiếp tục bày bán. Cái kiểu dáng, nhãn mác và chất liệu của từng loại bia được người ta trân trọng và gìn giữ từ đời này qua đời khác như một thứ quốc bảo về ẩm thực chứ không có lối thay đổi mẫu mã, kiểu dáng luôn xoành xoạch như các thứ bia rượu, thuốc lá… ở bên ta.
Thú thật, ngụm bia đầu tiên tôi được uống sao mà đắng thế. Bia vừa vào miệng đã suýt nữa phải nhổ ra vì đắng. May mà chưa kịp thực hiện cái phản xạ đáng xấu hổ ấy trước mặt ông. Thế rồi, dần dần cũng quen, tôi uống được hết phần bia mà ông rót cho và cũng cảm thấy nó là lạ, có một hương vị dễ chịu mặc dầu có đắng tý chút. Người ta bảo rằng trên đời này, hầu như cái gì gây nên nghiện lúc đầu bập vào cũng khó. Trẻ con lần đầu chấm nhầm phải bát nước mắm có ớt thì nước mắt, nước mũi giàn giụa. Lắm anh choai choai lần đầu làm bộ hút điếu thuốc cho ra vẻ người lớn để chộ mấy tiểu thư mới lớn thì bị ho sặc ho sụa… Thế rồi, ngày một ngày, những thứ ấy chẳng hiểu sao nó cứ len lỏi vào cuộc sống. Thiếu nó thì nhớ. Có thứ thấy thèm và không chịu nổi. Thế là đâm nghiện.
Tôi là một trong số những người rất thích bia, yêu văn hóa bia nhưng nếu như không có bia dăm bảy tháng thì cũng chẳng hề gì. Người ta nói nghiện hay không còn tùy thuộc vào cái hệ thần kinh bẩm sinh của từng người, chẳng biết có đúng không. Tôi không hẳn là không nghiện bia nhưng từ lâu đã mắc phải chứng nghiện cái không khí cộng đồng của bia. Đôi khi bận việc, tạt qua quán bia thấy thật khó khăn khi phải một mình tu hết một vại nhưng nếu ngồi vui với bè bạn thì bao nhiêu cũng không đủ. Chẳng phải mình tôi mà nhiều người đã gặp ở Việt Nam cũng như ở nhiều nơi trên thế giới cùng chung lối uống cộng đồng như thế. Người uống bia luôn có bè có bạn. Người ta uống với bạn, uống vì bạn. Đôi khi làm thơ, sáng tác ngay trên bàn bia với bạn bè. Bên Tiệp, người ta thành lập cả đảng Bia ra tranh cử nghị viện như những đảng phái quái dị khác mọc ra như nấm sau ngày chế độ Cộng sản cũ tan rã.
Ông tôi bảo rằng trước đây, Hà Nội cũng có nhà máy bia do người Pháp sản xuất. Lúc ấy, người ta bán loại bia gọi là bia Hô Mèn (L’Home) làm trên Ngọc Hà, nơi là trụ sở của nhà máy bia bây giờ. Hồi ấy người ta bán hai loại bia, một loại gọi là cổ vàng và loại khác là cổ trắng vì cổ chai được bọc bởi hai loại giấy bạc khác nhau và độ đậm nhạt của hai loại này khác nhau. Xe ô tô xi téc bán bia bốc (Bock) và nước cam ga đỗ ở gần vườn hoa Chí Linh gần nhà dây thép luôn sơn màu vàng với nhãn hiệu con hổ màu đỏ trong vòng tròn. Khách qua đường có thể dừng chân hay vừa ghếch chân trên xe đạp làm một bốc bia.
Nghe nói phải tìm mãi người ta mới thấy được Ngọc Hà là vùng có nguồn nước tốt để nấu bia. Trong công nghệ nấu bia, nước là một nguồn quan trọng bậc nhất. Dù có hoa Hu Blông, lúa mạch thứ thiệt, máy móc và quy trình sản xuất hiện đại đến mấy mà nguồn nước không ra gì thì cũng coi như bỏ.
Nghe nói có thời công nhân mỏ Quảng Ninh phải làm việc cực nhọc trong điều kiện quá nóng nực, vất vả. Ra thăm mỏ, cảm thông với nguyện vọng của thợ mỏ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ thị cho Bộ Công nghiệp nhẹ nhập cả một dây chuyền của Tiệp Khắc về để xây dựng một nhà máy bia ngoài Quảng Ninh để phục vụ công nhân. Nhưng rút cục, máy về mà bia không có, cũng chỉ vì lúc ấy vùng định xây nhà máy không có được nguồn nước ngọt thích hợp. Máy móc đành phải chuyển đi nơi khác.
Vùng Ngọc Hà – Hoàng Hoa Thám ven hồ Tây, Hà Nội quả là một vùng có nguồn nước lý tưởng để nấu bia cho người Hà Nội và làm ra cái gu riêng cho người Hà Nội, người cả nước và thiên hạ thưởng thức. Nghe nói hãng bia tư nhân của ông chủ Đường Béo người Hà Nội cũng nhờ kiếm được nguồn nước quanh vùng Ngọc Hà nên bia làm ra mới có khách. Có những đại lý gian giảo mua bia của nhà máy bia Hà Nội rồi đấu trộn với bia Đường Béo với giá rẻ hơn để làm giả bia Hà Nội trục lợi.
Thuở trước, người Pháp làm ra bia chủ yếu là để phục vụ cho tầng lớp trên trong xã hội. Người dân thường Hà Nội hầu như rất ít khi được uống bia. Đại đa số không biết bia là gì.
Từ những năm sáu mươi, với sự giúp đỡ của nước bạn Tiệp Khắc, nhà máy Bia Hà Nội và cũng là nhà máy bia duy nhất của miền Bắc Xã hội chủ nghĩa đã ra đời trên nền nhà máy bia của Pháp xây dựng trước đây ở đường Hoàng Hoa Thám.
Bia được sản xuất, nhà máy mở ra các đại lý bia khắp nơi ở Hà Nội để phục vụ nhân dân với giá bao cấp là ba hào một vại bia lớn. Tôi còn nhớ một số đại lý bia đầu tiên ở Hà Nội như một đại lý đặt tại phố Hàng Bài gần rạp Tháng Tám bây giờ hay một đại lý khác mở ở phố Hàng Khay, nay là chỗ bán hàng lưu niệm hay hiệu ảnh …. Trong các đại lý này, người ta đem đến từ nhà máy bia những thùng bia hình trụ có đóng đai sắt, mỗi thùng khoảng 50 lít. Bia được rót cho khách qua những chiếc vòi to có khóa cố định trên quầy theo kiểu châu Âu. Bên quầy còn có những bình CO2 để sục khí làm lạnh bia và tạo thêm ga cho bia. Ngoài bia hơi, nhà máy còn sản xuất bia chai với các nhãn hiệu bia Trúc Bạch và bia Hữu Nghị.
Thoạt đầu, khi mới đem bia ra bán, dân Hà Nội nhiều người còn bỡ ngỡ, trừ một số công chức hay những người đã sống lâu ở thành thị thì thỉnh thoảng có uống bia. Đa số người Hà Nội mới về sống ở Thủ Đô từ sau giải phóng thì chưa quen với thứ giải khát này. Cửa hàng bia lúc đầu thưa thớt, vắng tanh. Lúc ấy, thương nghiệp phải tìm đủ mọi cách để tiêu thụ lượng bia sản xuất được. Người ta đã bán bia hoà lẫn với si rô để có vị ngọt dễ uống hay bia kèm theo một đĩa đường kính. Có cửa hàng kem bên Gia Lâm người ta bán bia kèm theo chiếc kem que thả vào trong cốc mà chẳng hiểu sao lũ bạn tôi lại gọi thứ bia kem ấy là kem cối.
Trên báo khoa học lúc bấy giờ, đã có nhà khoa học viết bài ca ngợi công dụng của bia. Bài báo viết rằng “bia là thứ đồ uống cực kỳ bổ, trong đó có nhiều đường, vitamin A, Vitamin B … Nếu uống bia nhiều thì người sẽ phát phì. Trên thế giới có người nhịn ăn cả tháng, chỉ uống bia mà vẫn khoẻ mạnh….” Và sau này, khi mà dân nghiện bia ngày càng đông lên, bia trở nên khan hiếm và nhiều tiêu cực sau bia xuất hiện thì cũng nhà khoa học nọ lại viết báo dọa thiên hạ “Bia cũng là cồn, uống vào có hại!”.
Quảng cáo một thời gian ngắn thôi là thứ nước uống thơm mát bổ này có khách hàng ngay. Người Hà Nội đã dễ dàng chấp nhận và phổ thông hóa thứ nước uống có gốc Châu Âu này. Có lẽ lớp người chấp nhận Bia sớm nhất ở Hà Nội chính là đội ngũ văn nghệ sỹ và những người lao động nặng.
Nhiều bác công nhân khuân vác, kéo xe vất vả mồ hôi nhễ nhại nhưng chỉ tu một mạch cả vại bia là mệt mỏi tiêu tan và cảm thấy lâng lâng có thể hăng hái làm thêm vài chuyến hàng nữa.
Giới văn nghệ sỹ cũng thường tụ tập quanh bàn bia và sau này là ngồi xổm trên bãi cỏ, vỉa hè hay nền đất để bàn chuyện văn chương thế sự. Quán bia Cổ Tân gần nhà hát lớn, quán “chuồng cọp” đầu Nguyễn Đình Chiểu… là nơi cụ Nguyễn Tuân, họa sỹ Nguyễn Sáng, họa sỹ Mai Văn Hiến và nhiều nghệ sỹ tên tuổi khác thường lui tới.
Càng ngày, công chúng đến với bia càng đông, cầu không đủ cung nên việc mua bia ngày càng khó. Người ta phải xếp hàng rồng rắn tới hai ba trăm mét, người nọ nối người kia để mua một cốc bia. Hồi ấy, tôi có lần trốn giờ cơ quan cùng mấy cậu bạn ra xếp hàng ngoài quán bia đường Trần Hưng Đạo, gần ngã tư Hàng Bài thì gặp ngay vị thủ phó của mình cũng đã ra xếp hàng từ trước để chầu chực mua cho được một vại bia. Khổ quá, cái gì cũng thiếu. Ăn thì không đủ no, với nhiều người, bia vừa là thứ thuốc bổ vừa tạo cảm giác thư giãn trong những ngày tháng cùng cực căng thẳng của cuộc sống trong chiến tranh và chế độ bao cấp nặng nề.
Đứng dẹp trật tự của đám người xếp hàng và chúa hay chen ngang là một anh chàng béo mập, lùn lùn với chiếc loa pin luôn the thé bài thơ nhắc nhở mà mãi cho đến tận bây giờ, mỗi khi gặp lại vị thủ phó cũ của mình nay đã nghỉ hưu và ngồi viết văn chúng tôi vẫn khoái chí nhắc lại cái ngày gian khó xa xưa với bài thơ xếp hàng nọ:
“Muốn uống bia hơi phải xếp hàng
Xin đừng nhường chỗ chớ chen ngang
Chen ngang phát hiện cho màu áo
Kiên quyết mời ra rất nhẹ nhàng”
Xếp hàng quá đông mà nhiều khi đến cửa chuồng rồi thì bia lại hết. Cả lũ tiu nghỉu kéo nhau về hoặc đi lùng một cửa hàng khác để rồi lại phải mất hàng tiếng xếp hàng lại từ đầu. (Chúng tôi hay nói đùa là “đến cửa chuồng” như cảnh anh chơi cá ngựa biết bao công sức đổ con xúc xắc, kể cả đá bao con ngựa cản đường khác để về đến cửa chuồng rồi lại bị đá trở lại vị trí ban đầu). Cái thời ấy, hầu như phần lớn thời gian của người dân Hà Nội đều phải dành cho những cuộc xếp hàng bất đắc dĩ. Đêm thì phải thức trắng để xếp hàng chầu chực nước vì nước nhỏ từng giọt, vợ chồng con cái, cả khu tập thể phải thay phiên nhau mà hứng. Ba bốn giờ sáng đã phải chầu chực trước cửa hàng thịt hay phản thịt mậu dịch cửa chợ để xếp chiếc rổ rách, hòn gạch, cái túi ni lông thay người, chờ đến bảy tám giờ cô nhân viên mậu dịch mới đủng đỉnh tới nhận hàng, cắt phiếu và lạnh lùng, khinh khỉnh ban phát cho kẻ mua có nhiều người bằng tuổi bố mẹ, ông bà mình. Không một lời tử tế với khách hàng chứ chớ nên đòi hỏi những câu thưa gửi, cảm ơn lịch sự vốn có của người Hà Nội hào hoa. Bao cấp nó bần cùng và bệ rạc hóa người Hà Nội đi và xếp hàng để mua sản phẩm ẩm thực bia trong thời kỳ khốn khó này có lẽ là một trong những kiểu bệ rạc nhất trong sinh hoạt ẩm thực chưa từng thấy ở Hà Nội xưa nay.
Dân uống bia đông quá mức chịu đựng, người ta phải nghĩ ra nhiều kế khác nhau để giữ trật tự khu vực bán bia. Một trong những điển hình là cửa hàng bia Cổ Tân kề gốc gạo xế cửa Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam. Nơi đây suốt ngày tấp nập bởi dân uống bia, dân phe bia và đủ các loại người từ các văn nghệ sỹ, thương binh, cán bộ, dân phe và cả đám du côn tụ tập kiếm chác, phá phách. Cửa hàng đã phải nhiều lần thiết kế đi thiết kế lại cửa bán bia để cố giữ trật tự mà vẫn không sao làm được. Họ đã hàn sắt vây quanh chỗ xếp hàng, chỗ rót bia để chống chen ngang. Lập rào quanh khu bán bia để chống nạn phe bia, đầu cơ bia … Cũng chính vì thế mà dân bia còn gọi các cửa hàng kiểu này là “Chuồng cọp“. Cuối cùng thì người ta nghĩ ra một sáng kiến tuyệt vời để chống chen ngang: làm một dây thép dài có những đồng xèng nhôm đục lỗ xỏ qua dây thép. Mỗi người đến cửa mua vé chỉ được mua một đến hai cốc và được nắm tay vào những đồng xèng thay cho chiếc tích kê của mình và người nọ đứng ép sát vào người kia, tay nắm đồng xèng đẩy cho đến cửa rót bia để hưởng cái hạnh phúc có trong tay một hai cốc bia sau hàng giờ xếp hàng trong khấp khởi và hy vọng.
Hồi ấy, làm gì có tiền, có lắm bia mà nhậu nhẹt lai rai. Người ta thường chỉ uống bia với dăm hạt lạc rang hay đĩa nộm là cùng. ấy thế mà để ép khách kiếm lời, nhiều cửa hàng quốc doanh nghĩ ra cái trò ép người uống phải mua kèm với bia đĩa nộm chua loét, cái nem cuốn dối nhạt phèo hay con mực nướng với giá cắt cổ. Nếu không mua thức ăn kèm thì không bán bia, nhiều khi mua thức ăn nhậu kèm rồi phải đổ đi chỉ uống bia mà thôi.
Bia khan hiếm quá mức nên người ta nghĩ ra nhiều hình thức phân phối khác nhau. Trong những cửa hàng cung cấp đặc biệt, người nào có bìa A, bìa B thì mỗi tháng được mua một hai chục chai tùy theo định lượng mỗi tháng. Các cơ quan nhà nước được cấp sổ mua bia theo tuần, theo tháng. Nếu có hội nghị đặc biệt phải làm công văn xin cung cấp hoặc nếu kèm theo lá thư tay của người quen có thẩm quyền phân phối thì càng tốt. Cơ quan sẽ được ưu tiên mua vài chục lít gọi là để phục vụ hội nghị. Cứ mỗi lần có bia về là cả cơ quan vui như hội. Người ta phân công người đem sổ lên nhà máy xếp hàng để chờ mua bia phân phối. Anh em ở nhà thì tíu tít kiếm cái ấm, cái xoong để đựng. Mượn cốc mượn chén, gọi điện rủ bạn bè ở cơ quan khác sang cùng uống. Bom bia vừa vần xuống cổng cơ quan là nhanh như cắt, nhất nhất theo sự phân công của ban đời sống công đoàn, người bán phiếu, kẻ rót bia…rồi thì tản ra từng nhóm ai nấy vui vẻ trong cái hạnh phúc đơn sơ, ước mơ nho nhỏ mà họ được lâng lâng tận hưởng. Ngày ấy tuy thiếu, tuy khổ nhưng vui. Bây giờ, đôi khi được dự những bữa tiệc đồ ăn thức uống, bia rượu thừa mứa mà sao vẫn không thấy được cái niềm vui khi được chia sẻ từng giọt bia với bạn bè thủa xưa. Lắm lúc bia nhiều mà sao vẫn thấy lạnh tanh, đắng ngắt. Cái đắng của nỗi cô đơn trống vắng tình người. Cái lạnh của mọi thứ đều quy ra thóc ra tiền. Người ta thả sức tiêu tiền, tiêu thóc của thiên hạ trong những bữa tiệc lu bù mà bất đắc dĩ ta được mời dự, phải dự.
Ngày nay, bất cứ ai đến Hà Nội cũng sẽ dễ dàng nhận dạng ra cái bản sắc uống mới của người Hà Nội. Đó là bia và bia hơi. Khắp nơi đều mở ra các quán bia hơi. Về khoản bia hơi thì vào thời điểm tôi đang viết bài này, có lẽ Hà Nội là một thành phố đứng đầu về sản xuất và tiêu thụ bia hơi trong cả nước. Dân trong thành phố Hồ Chí Minh và nhiều nơi khác hình như thích uống bia chai hơn.
Người ta sản xuất và tiêu thụ đủ các loại bia ở Hà Nội. Từ bia hơi đến bia chai, bia lon với các loại quen thuộc như Bia Hà Nội mà nhiều người quen gọi là “bia nhà máy” – là hãng bia quốc doanh lâu đời nhất. Ngót chục năm nay, dân bia Hà Nội lại quen với loại sản phẩm liên doanh với Đan Mạch, đó là bia Halida (Hà Nội liên doanh với Đan Mạch). Ngoài ra còn có hàng loạt các hãng bia nước ngoài đầu tư sản xuất tại Việt Nam mà khi vào các quán ăn ở Hà Nội, bạn sẽ luôn gặp các nữ nhân viên tiếp thị thuộc các công ty bia khác nhau ăn vận những bộ đồng phục riêng của từng hãng. Hãng Heineken thì vận đồ xanh lá cây, đeo tạp dề trắng kiểu Hà Lan. Hãng Tiger thì mặc sắc phục nền vàng váy ngắn xanh tím than…Vừa ngồi vào bàn là các cô đã đon đả mời chào khách uống thứ bia chính hiệu của hãng mình. Trên các bảng hiệu, tường nhà hàng treo đầy tranh biển quảng cáo cho các hãng bia và hàng loạt các kiểu khuyến mại được tung ra để tranh giành khách uống.
Bia tung ra thị trường ngày một nhiều. Quảng cáo bia treo nhản nhản khắp phố và hầu như không tối nào là không có quảng cáo bia trên các chương trình ti vi ở Hà Nội. Các điều kiện phục vụ cho người uống bia đã ngày càng cải tiến. Duy có một điều mà các quán bia hơi ở Hà Nội vẫn tỏ ra vô cùng bảo thủ đó là những chiếc cốc vại thô kệch làm bằng thứ thủy tinh tái sinh thô thiển đầy bọt vẫn giữ nguyên hình dạng nguyên thủy từ mấy chục năm nay, khi mà bia hơi mới ra đời ở Hà Nội. Có lần tôi dẫn một ông bạn Mỹ đi chơi phố, tạt vào quán bia gần nhà hát lớn uống dăm vại. Anh bạn Mỹ của tôi là người có thú sưu tầm các loại cốc uống bia cứ khẩn khoản nhờ tôi kiếm cho một chiếc cốc vại bia hơi Hà Nội. Theo anh ta, đây là loại cốc uống bia độc nhất vô nhị trên thế giới. Rốt cuộc, bà chủ quán đã tặng khách cả một đôi cốc thủy tinh thô kệch làm vật kỷ niệm mang phong cách độc đáo của bia hơi Hà Nội.
Từ chỗ Hà Nội là một trong những thủ đô khan hiếm bia vào bậc nhất trên thế giới trong thời còn bao cấp, chỉ sau mở cửa, đổi mới Hà Nội đã nhanh chóng trở thành một trong những thiên đường của những người yêu bia. Tôi không rõ lượng bia được tiêu thụ của dân Hà Nội mỗi ngày là bao nhiêu nhưng tin chắc rằng lượng bia được sản xuất và được tiêu thụ tại đây không thua kém nhiều thành phố khác trên thế giới.
Có ông bạn từ trong Nam ra Hà Nội đã hát nhái lời bài hát “Nhớ về Hà Nội” với lời ca:
“… Hà Nội của ta, Thủ đô yêu dấu
Đầy đường rượu bia, đầy đường thịt cầy…”
Không biết hát như vậy có quá lắm không nhưng quả thật hai khoản ẩm thực này có lẽ hiện tại Hà Nội là vô địch!
VTNg st

Thứ Ba, 20 tháng 12, 2011

Kỷ niệm thời chiến tranh chống mỹ cứu nước:


Kỷ niệm ở Thanh Sơn - Phú Thọ








Rừng cọ, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt,
Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát,
Bến phà rào rạt, sóng nước Bình Ca,
Ai xuôi Phú Thọ, ai qua Trung Hà...?



Tiểu đội của tôi


Nhập ngũ 06 tháng 01 năm 1972 cùng với Vũ Trung(K8 Trỗi), Y Hòa(K 7 Trỗi), Chấn Hưng(K22 Trãi), Phương Bình(K7 Trỗi), Thanh Sơn(K22 Trãi), Lương Hòa(K22 Trãi), Nho( K22 Trãi),Ngô Tất Thắng(K7 Trỗi),...biên chế vào C42D54E59 huấn luyện tăng cường cho mặt trận Quảng Trị của Bộ tư lệnh Thủ Đô, sau đó tôi được trên điều động sang đơn vị mới đó là Z1E205 Bộ tư lệnh Thông tin liên lạc đóng quân trên địa bàn của một xã miền núi huyện Thanh Sơn ,Phú Thọ. Tiểu đội của tôi là tiểu đội "Con cưng" của tiểu đoàn bộ Z1 gồm Thái Hòa "Khọm"(K 6+7 Trỗi), Lê Vân(K 7 Trỗi), Hồng Hà(K 7 Trỗi), Hà"Mít"(K 7 Trỗi), "Tề"Phúc(K 7 Trỗi), Thống Nhất(K 7 Trỗi) và 5 chàng thanh niên của Đông Anh, Gia Lâm Hà Nội cùng Trần Hải, cháu của Trung tá Trần Bạo - Trung đoàn trưởng E205 nữa; trong đó tôi là Binh nhất, còn các chàng kia là Binh nhì. Tiểu đội trưởng của chúng tôi là Hạ sỹ "Mốc" Nguyễn Văn Thuộc, người Nghi Tàm, Quảng Bá, Hà Nội. Sở dĩ vì sao chàng được gọi là "Mốc" thì tôi không rõ, nhưng hình như cũng gần chục năm "Chống gậy tìm sao" rồi. Hồi đó chúng tôi là những chàng lính vừa rời ghế nhà trường, trẻ măng, mặt còn lông tơ, tuổi vừa chớm 18, còn chàng tiểu đội trưởng Nguyễn Văn Thuộc mới 28, nhưng trông đã già dặn so với lũ chúng tôi lắm rồi, dáng nhỏ thó, vui tính, nhanh nhẹn và chưa vợ. Chúng tôi huấn luyện tân binh thời gian đầu ở nhà dân trong bản gần tiểu đoàn bộ. Thời gian này vất vả nhưng thắm đậm tình bạn bè, đồng chí. Ngoài những thời gian ban ngày lao động xây dựng lán trại, học chính trị và tập kỹ chiến thuật Thông tin liên lạc, buổi tối chúng tôi quây quần bên bếp lửa nhà sàn uống chè"Bồm" hoặc cà phê "Bít tất" tán dóc về những món ăn ngon của Hà Thành hay những kỷ niệm tuổi học trò ở trường Trỗi hay trường Nguyễn Trãi, Hà Nội.Tôi và Hồng Hà còn tranh cãi nảy lửa về "Thế nào là giờ GMT?", mãi nhiều năm sau này khi gặp lại ở quán giải khát đầu ngã tư Điện Biên Phủ cắt Hoàng Diệu, Hồng Hà mới công nhận tôi đúng, sau khi "Bật mí" là có tham khảo ý kiến "Ông già"(Thiếu tướng Lê Liêm, thứ trưởng Bộ Văn Hóa). Lê Vân( Con Chính ủy Bộ Tư lệnh Thông tin liên lạc-Thiếu tướng Lê Cư), tiểu đội phó, dáng đậm chắc, chín chắn, cương trực. "Tề" Phúc chàng trai hay hát(Con Thiếu tướng Phục-Cục trưởng Cục Chính sách quân đội), tôi biết hát một vài bản tình ca và dân ca Ý hay Nga là học"Mót" của chàng này. Thống Nhất cao gầy, đẹp trai và đỏm dáng nhất tiểu đội(Con Đại tá Nguyễn Thông-Chánh Văn phòng TCCT quân đội), tuy cũng là quân phục nhưng chàng này mặc vào và tay lúc lắc đồng hồ Rolex là ăn đứt siêu người mẫu Bình Minh, làm không biết bao bóng hồng trong đơn vị bị "Say nắng". Thống Nhất nổi tiếng đơn vị về tài thiện xạ, chẳng là chàng được bố cho mượn khẩu súng thể thao và một cơ số đạn"Khủng" nên Chủ nhật nào tiểu đội tôi cũng được một bữa tươi với chim cu xanh hay gà rừng. Hà"Mít"(Con tướng Kinh Chi-Cục trưởng Cục Bảo vệ quân đội), thấp bé nhẹ cân nhất tiểu đội, xứng với danh"Mít" từ hồi ở trường Trỗi.
Tiểu đội chúng tôi đang "Yên ả" và trực thuộc tiểu đoàn bộ Z1-KV12 thì có lệnh di chuyển từ trong bản ra ở tại tiểu đoàn bộ và hàng ngày đi rừng lấy gỗ,tre,nứa và lá tranh về xây dựng lán trại chuẩn bị đón tiếp hơn một trăm cô lính mới của thành phố Thái Nguyên và vùng phụ cận để thành lập đại đội mới. Đại đội tân binh biên chế gồm 3 trung đội nữ và một tiểu đội nam của chúng tôi. Thời gian này phải nói là cũng khá vất vả, tôi và Hà "Mít" thuộc dạng loẻo khoẻo và thấp bé nên nhiều hôm anh em về lán nghỉ từ lâu rồi mà chúng tôi vẫn lết bết trong rừng với đống nứa ngộ vừa to lại vừa dài, vì hồi đó đã có"Khoán sản phẩm" của Bí thư Kim Ngọc-Tỉnh Vĩnh Phú rồi! Đến khi các nàng tân binh má đỏ hây hây, tóc thề ngang vai, trong những bộ quân phục mới còn hồ sột soạt đến đơn vị, sự "Tràn ngập lãnh thổ" của các nàng làm không khí ở tiểu đoàn bộ và các đại đội trực thuộc sôi động hẳn lên. Cán bộ tiểu đoàn, đại đội, trung đội thì lo sốt vó, chỉ lo có "Sơ sẩy" gì thì chết, còn anh em thì phấn khởi ra mặt, vì phần lớn anh em lâu nay đi bộ đội đã chín mười năm, toàn thượng sỹ"Mốc", trung sỹ "Mốc" cả và chưa có điều kiện về phép để lập gia đình. Còn chúng tôi, 12 chàng tân binh , trong đó có 6 chàng trai Hà Nội là lính Trỗi cũ chưa bao giờ cầm cổ tay con gái và chưa biết yêu là gì thì cứ nhởn nhơ, "Con nai vang ngơ ngác". Nhưng "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén", vào một đêm trăng sáng, tôi đang gác trong vọng gác trên đồi , trăng thanh, gió mát, ngồi ôm súng "Mơ màng nghe chim hót ở trên cao" choàng dậy chẳng thấy súng ống đâu, tá hỏa chạy đi tìm thì tiếng kẻng báo động vang lên,... thì ra chính trị viên tiểu đoàn"Lo" không ngủ được, đi một vòng kiểm tra, qua đại đội tân binh thấy nhà của 3 trung đội nữ và tiểu đội nam của chúng tôi "Im phăng phắc", tịnh không có một tiếng ngáy, nghi quá, ông ngó vào thấy giầy dép vẫn nghiêm văn chỉnh, nhưng hình như một số giường chỉ có màn không, đi qua chỗ tôi gác ông thu súng rồi giấu gần đấy để cảnh cáo,...Nghe kẻng báo động, thế là anh em, chị em từ bìa rừng cạnh đơn vị tán loạn chạy về tập hợp nghe chính trị viên tiểu đoàn huấn thị và khiển trách, tôi may mắn mò tìm lại được súng, thật là kinh nghiệm nhớ đời, hú vía. Chỉ có chàng binh nhì Trần Hải là cùng với nàng binh nhì Thu Hà "Đậu phộng rừng" đến tận chiều hôm sau mới tìm thấy"Tiểu đoàn bộ"!. Tiểu đội tôi còn nhiều chuyện cười ra nước mắt của những chàng "Công tử" Hà Nội, nhất là những buổi đi cầy, đi cấy và làm cỏ lúa tăng gia hay giúp dân gặt lúa của đơn vị, đúng là: " Ai bảo chăn trâu là khổ, tôi đi cầy còn khổ hơn trâu!"...
Đại đội tân binh được thành lập với nhiệm vụ đào tạo điện tín viên và nhân viên trực tổng đài phục vụ các chiến trường A,B,C đang diễn ra ác liệt và đặc biệt hiệu quả trong việc góp phần vào chiến thắng chiến tranh phá hoại ở miền Bắc, trận "Điện Biên Phủ" trên không 12 ngày đêm cuối năm 1972 ở Hà nội chống trả "Pháo đài bay" B52, "Hung thần" F111 cánh cụp cánh xòe của không lực Hoa Kỳ và Tổng tiến công giải phóng miền Nam thống nhất đất nước năm 1975. Sau đó, tiểu đội của tôi được tung đi khắp nơi, mỗi đứa một phương, Bắc, Trung, Nam đều có cả, đứa thì chuyên viên cao cấp dân sự, đứa thì đại tá, đứa thì mang quân hàm cấp tướng QĐNDVN, tôi thì "Bèo dạt ...mây trôi" ở nơi "Đất khách quê người"...nhưng chắc rằng chúng tôi không ai quên những kỷ niệm trong quân ngũ của QĐNDVN và mãi mãi mang bản chất của "Anh bộ đội Cụ Hồ" và "Chất lính Thủ Đô" của "Trai Hà Thành+ Đất Thánh" trong mình.


Thái Hòa(10 G).

Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

Nhớ nhà thơ Lỡ bước sang ngang

Nguyễn Bính và đồng nghiệp đấu khẩu bằng thơ
Trước ngày bế giảng lớp “Văn nghệ khoá Lê Trần” (1951) ở ấp Đồng Cùng, rừng U Minh, thi sĩ Nguyễn Bính tâm tình với bạn thân Hoàng Tấn: “Mình đã ngoài 30 rồi, sống lẻ loi mãi cũng buồn, mình tính vào khoảng sau hai tháng nữa sẽ cưới vợ”.
Hoàng Tấn ớ ra, cho là “chuyện lạ kháng chiến”. Một thi sĩ đa tình, lại như bèo dạt mây trôi, từng tuyên ngôn qua hai câu thơ: “Sống là sống để mà đi/Con tàu bạn hữu, chuyến xe nhân tình” và đã có “một ngàn lẻ người yêu trong mộng”, bây giờ muốn làm chú rể! Mà cô dâu là ai đây? Hoàng Tấn liền mau mau tranh thủ kể cho anh em trong tiểu đội nghe. Thế là đêm trước ngày Tiểu đội Thơ chia tay, Hoàng Tấn, Hoàng Phố, Thanh Bình, Truy Phong, Kiên Giang, Nguyễn Hải Trừng bày mưu trêu chọc Nguyễn Bính trong cuộc chất vấn - đối thoại bằng thơ hy hữu. Nhà thơ Thanh Bình xung phong “phát pháo” mở đầu.
Nhà thơ Nguyễn Bính.
Nhà thơ Nguyễn Bính.
Thanh Bình (hỏi Nguyễn Bính): Phải chăng ông sắp tuyên hôn?
Truy Phong (bồi tiếp): Bạc tiền không có vợ con nỗi gì?Nguyễn Bính (thản nhiên): Bạc tiền không có cần chi/Miễn yêu chung thuỷ việc gì cũng xong.
Hoàng Phố: Rằng xong thì Bính dối lòng/Thuốc không có hút còn hòng cưới ai?
Nguyễn Bính (phản ứng): Các anh nghĩ thế là sai/Theo "Đời sống mới" tiền tài kể chi.
Nguyễn Hải Trừng (ở Tiểu đội Họa sang chơi, góp ý): Đứng trong thực tế mà suy/Bạc tiền không có lấy gì tiếp tân?
Nguyễn Bính (bực dọc): Đã mang tiếng bạn bè thân/Đến chơi đâu phải cầu ăn cho nhiều?
Hoàng Phố (khích bác): Bạn bè là chỗ thân yêu/Ít ra cũng phải một "heo" mới vừa.
Nguyễn Bính (trả miếng): Tưởng rằng tình bạn thiết tha/Ai ngờ lại hoá "bạn gà bạn heo"?
Hoàng Tấn (phê phán): Bính ơi xin chớ đặt điều/Bạn người ai lại bạn heo bao giờ?
Nguyễn Bính (chưa nguôi giận): Bạn người uống rượu ngâm thơ/Bạn heo nên mới đợi chờ thịt heo!
Thanh Bình (tấn công): Ông đừng vin cớ ông nghèo/Đơm chuyện đặt điều nói xấu bạn thơ.
Nguyễn Bính (đắc chí): Nào ai xuyên tạc bao giờ/Biết mình đuối lý thì ngơ cho rồi.
Hoàng Tấn (giả lả): Chuyện ăn là chuyện lôi thôi…
Hoàng Phố (lái sang chuyện khác): Nay xin gác lại hỏi chơi chuyện này/Vợ ông con cái nhà ai/Có phải lạc loài nên mới đụng ông?
Nguyễn Bính (trừng mắt): Con ai cũng có giống dòng/Lạc loài đâu phải là không ra gì?/Biết bao nhiêu phận nữ nhi/Cấm cung mà cũng thị phi tiếng đồn.
Truy Phong (đế vô): Cây có cội nước có nguồn…
Hoàng Phố(châm chọc): Lạc loài gái ắt chẳng còn tiết trinh
Nguyễn Bính (chỉ vào mọi người): Tại sao câu nệ chữ trinh/Các ông phong kiến cùng mình chẳng sai…
… Được một thời gian nghe tin Nguyễn Bính cưới một cán bộ phụ nữ tỉnh, mở sạp báo “Nhân Dân Miền Nam” ở Huyện Sử. Gần cuối kháng chiến, nghe máy bay Pháp lượn vòng từ đập đá dài theo kênh chắc băng xuống Thới Bình, rải truyền đơn kêu gọi đích danh tác giả Lỡ bước sang ngang - Nguyễn Bính “quay về với chính nghĩa Quốc gia để được trọng đãi”… Bạn bè xôn xao cho đến khi có người gặp Bính đang làm rẫy ở Hang Mai, chung sống với một phụ nữ Bến Tre vừa sinh mụn con Nguyễn Hương Mai, kế Nguyễn Hồng Cầu.
Tập kết ra Bắc, Nguyễn Bính hướng về Nam bộ, đặc biệt vùng sông nước kháng chiến chống Pháp dạt dào nỗi nhớ: “Thấy dừa lại nhớ Bến Tre/Thấy hoa sen nhớ đồng quê Tháp Mười/Thấy trăng lại nhớ đến người!”, để rồi đêm đêm ngửa mặt nhìn trời thốt lên “…Sao đặc trời cao sáng suốt đêm/Sao đêm chung sáng chẳng chia miền/Trời còn có lúc sao quên mọc/Tôi chẳng đêm nào chẳng nhớ em!” (trích Đêm sao sáng).
(Theo hồi ký Nhớ về rừng U Minh của Hoàng Tấn)
(Nguồn: Văn Nghệ TP HCM)
   TH st.