Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2011

Tưởng nhớ nhà thơ Phạm Tiến Duật

Nhà thơ Phạm Tiến Duật 
                                                                                    (Ảnh :Nguyễn Đình Toán)





Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây (trích)

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.

Một dãy núi mà hai màu mây
Nơi nắng nơi mưa, khí trời cũng khác
Như anh với em, như Nam với Bắc
Như Đông với Tây một dải rừng liền.

Trường Sơn Tây anh đi, thương em
Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo
Muỗi bay rừng già cho dài tay áo
Rau hết rồi, em có lấy măng không...

Bài thơ về tiểu đội xe không kính (trích)

Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất trời, nhìn thẳng

Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái

Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha...



NGƯỜI ĐI LẠC TRONG HÒA BÌNH
Nguyễn QuangThiều




Đã nhiều lần tôi nói rằng : nếu chọn một nhà văn Việt Nam để dựng tượng trên đường mòn Hồ Chí Minh thì tôi chọn nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mà không chỉ mình tôi chọn ông. Rất nhiều người được hỏi đều chọn ông. Suốt mười mấy năm chiến tranh, ông đã đi dọc con đường mòn Kỳ lạ ấy, đi và làm thơ trong bom đạn, trong máu chảy. Hình ảnh ấy luôn luôn ám ảnh tôi. Và tôi không làm sao lý giải đầy đủ được con đường của thi ca trong con đường bi tráng ấy. Nhà thơ Mai Văn Phấn đã nói với tôi : Phạm Tiến Duật là người đã mang đến cho thi ca trong những năm tháng chiến tranh một đời sống mới cả về thi pháp lẫn nội dung. Mai Văn Phấn hoàn toàn đúng. Bởi đấy là sự thật. Có lẽ không bao giờ còn có một nhà thơ được tất cả các Uỷ viên Bộ Chính Trị mời cơm khi ông trở về từ chiến trường. Cũng không còn có một nhà thơ nào như ông được những người lính nói : “ Chúng tôi tựa vào những câu thơ của Phạm Tiến Duật để đi vào mặt trận”. Và như thế, ông đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của một người lính và của một nhà thơ trong chiến tranh.

Tôi nhớ mãi một câu chuyện về những người lính giữ chốt trên một quả đồi ven đường mòn Hồ Chí Minh trong chiến tranh. Họ bị bao vây. Những đơn vị ở bên ngoài không thể nào tìm cách tiếp cận được họ ngoài hệ thống liên lạc bằng điện đài. Khi cấp trên hỏi họ cần gì thì họ trả lời : “ Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật”. Những người lính trên điểm chốt ấy biết rằng có thể tất cả họ sẽ hy sinh. Cái cần nhất lúc đó đối với họ không phải là thức ăn, nước uống. Cái cần nhất đối với họ trước cái chết là một bài ca của sự sống vang lên đôi lúc như một bản thánh kinh. Thơ của Phạm Tiến Duật không phải là một bản thánh kinh. Nhưng nó là một là một điều gì đó kỳ lạ của thời điểm ấy. Một bộ phận được phân công chuyển thơ của Phạm Tiến Duật lên điểm chốt đó. Bộ phận này đã tháo thuốc nổ trong một đầu đạn súng cối và cho thơ Phạm Tiến Duật vào đó rồi bắn lên chốt. Đây là một câu chuyện có thật. Nhưng khi được kể lại, nó đã trở thành huyền thoại. Câu chuyện đó là một hiện thực huyền thoại. Đấy là một hiện thực chứa đựng sự kỳ diệu lộng lẫy của thi ca và đời sống tinh thần của con người ở bất cứ nơi nào trên thế gian này. Nhưng bây giờ, có ai còn xúc động đến lạnh người khi nghe câu chuyện này như tôi đã từng trước kia không ? Bây giờ thi ca nhiều lúc không còn mảy may bóng dáng trong đời sống của quá nhiều người. Tất cả những điều kỳ diệu ấy như đã trở thành cổ tích tự lâu rồi. Và ngay chính đối với tác giả sinh ra những câu thơ ấy, tôi cứ nghĩ rằng : có những lần tỉnh rượu giữa khuya khoắt đã ngờ vực chính mình và tự hỏi : có thật là mình đã đi qua những năm tháng như vậy không ?

Trong những năm ở đường mòn Hồ Chí Minh với quá nhiều thiếu thốn và nhiều lúc đói như điên dại, nhưng nhà thơ Phạm Tiến Duật đã được chu cấp đầy đủ như một vị tướng. Người nhìn ra một trong những tài sản quý báu nhất và có sức mạnh nhất của thi ca khi con người đứng giữa gianh giới của sự sống và cái chết lại không phải là một nhà nghiên cứu hay là một nhà thơ mà lại là một người lính - ông Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh đường mòn Hồ Chí Minh và là Uỷ viên Bộ Chính Trị sau này. Nhưng bây giờ, nhà thơ không còn được coi trọng và thần thánh hoá như những năm tháng trước kia. Nhiều lúc tôi cứ hỏi tại sao bây giờ những vẻ đẹp của ngôn ngữ và giá trị nhân văn chứa đựng trong ngôn ngữ ấy lại không còn bao ý nghĩa trong đời sống con người nữa. Có rất nhiều lý do, nhưng có một lý do mà tôi nhận ra là những người mang danh nhà thơ đã không sống với sự chân thành, lòng đắm mê và dâng hiến như thuở trước đối với cuộc sống và đối với thơ ca.

Phạm Tiến Duật trở về từ chiến tranh. Ông ở trong một căn phòng tồi tàn ở Ngõ Yên Thế. Một căn phòng mà lối đi qua căn phòng đó là lối đi để đến một cái nhà vệ sinh tồi tàn của mấy hộ cùng ở trong ngôi nhà đó. Đấy là ngôi nhà của gia đình vợ ông. Căn phòng vợ chồng ông và hai cậu con trai ở ngõ Yên Thế. Tôi đã từng đến ngôi nhà ấy và dù cho lãng mạn đến thế nào tôi vẫn phải tự hỏi : tại sao ông có thể sống ở một nơi chật chội và thiếu thốn mọi thứ như thế. Mãi đến sau này, tôi mới có thể tìm được một lý do, cho rằng lý do đó cũng thật mơ hồ để lý giải vì sao một nhà thơ danh tiếng lẫy lừng như ông vẫn sống trong một điều kiện quá khó khăn sau khi chiến tranh đã kết thúc quá lâu. Tôi từng chứng kiến những người yêu quí thơ ông mang đến cho gia đình ông từng bao tải mùn cưa để nấu nướng. Trong khi đó, rất nhiều nhà thơ khác đã xây dựng lên một cơ ngơi đàng hoàng và chăm chút cái tổ ấm của họ hơn cả chăm chút thơ ca. Còn Phạm Tiến Duật vẫn trôi lang thang với thơ ca như một đám mây. Đám mây ấy chỉ biết có bầu trời. Đám mây ấy chỉ biết nó đang trôi trong tự do vô tận nhiều lúc như một bản năng khó kìm giữ. Bây giờ nhiều người vẫn nhắc lại hồi đó, tổ chức đã chuẩn bị đặt ông vào một vị trí rất cao : Bí thư thứ nhất Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nếu ông chỉ cần nghĩ đến điều đó bằng 50% của các nhà văn nhà thơ khác thì ông có thể ít nhất đã là một Bộ trưởng. Nhưng thơ ca và bản tính tự do của một thi sỹ đã kéo ông đi như gió cuốn đám mây trên bầu trời kia. Bản tính của một thi sỹ đích thực đã làm ông quên đi tiền bạc, quên đi nhà cửa, quên đi quyền chức và nhiều lúc quên đi cả vợ con mình. Tôi đã từng nghe một số nhà thơ nói ông khôn. Nhưng than ôi, nếu khôn thì vợ con ông đã không phải sống trong một căn hộ 26 mét vuông trên tầng năm của một khu chung cư tồi tệ nhất Hà Nội. Nếu khôn thì ông đã không nhận cái chức Tổng biên tập của Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Một tạp chí chẳng mấy ai đọc và chẳng biết làm thế nào để có thêm 300.000 đồng ăn trưa. Nếu khôn thì ông đã không bỏ đi chơi theo bạn bè quên cả sinh hoạt Đảng để ông không thể trở thành Đàng viên chính thức trong lần kếp nạp Đảng thứ nhất. Đã khôn thì ông không phải để một thằng em và cũng là một cậu học trò, một đàn em thơ ca là tôi và những người kém tài kém đức hơn ông ngồi xét xem ông đã đủ tiêu chuẩn vào Đảng hay không ? Với tôi đó là sự cay đắng không phải của ông mà của chính tôi.

Trong chiến tranh, con đường của ông cũng như của bao nhà văn , nhà thơ khác là một con đường thẳng xuyên qua bom đạn, xuyên qua cái chết. Ông đã đi đúng con đường ấy và không hề lạc bước một ngày cho đến ngày chiến thắng. Nhưng khi hoà bình đến thì ông đã đi lạc. Nhiều lúc tôi vẫn nghĩ ông không nhận ra con đường trong hoà bình hoàn toàn khác với con đường trong chiến tranh. Và thế là có những nhà thơ cùng thế hệ của ông đã tìm một con đường khác còn ông lại vẫn đi trên một con đường khác. Ông mê mải đi trên con đường ấy, một con đường chỉ có trong ký ức của ông. Ông vẫn nói như hồi chiến tranh và vẫn làm thơ như hồi đó. Bởi thế mà ông từng là nhân vật trong những cuộc bàn luận trong quán bia hơi thịt chó không thiện chí của không ít các nhà thơ cùng thế hệ với ông. Ông cứ tưởng tất cả vẫn thế. Nhưng ông có biết đâu tất cả đã đổi thay mà ông không biết. Và thế là nhiều lúc ông trở lên lạc lõng trước nhiều nhà văn nhà thơ cũng thế hệ của mình. Cũng có lúc ông như người chợt tỉnh và nhận ra rằng ông đã đi xa cái thời đại mà ông đang thở trong đó. Thế là ông vội vàng chỉnh sửa. Nhưng sự chỉnh sửa của ông để cho hợp với đương thời chỉ làm ông thêm lúng túng và vụng về. Không ít người nhìn thấy ông lúng túng và vụng về trên cái sân khấu cuộc đời này thì chê bai ông. Nhưng sự lúng túng và vụng về đó lại chứa đựng sự chân thành. Và sự chân thành ấy của ông nhiều lúc đã cản đường ông và đẩy ông ra xa nhiều nhà thơ cùng thế hệ. Nhưng ông lại để lại trong lòng ít nhất một người như tôi sự xúc động. Còn những người chê bai ông lại chỉ là sự vô cảm và dửng dưng đối với tôi. Họ đã diễn quá giỏi trong những vai mà họ nhận được. Tôi có thể làm thơ với cái gọi là hiện đại hơn ông nhưng tôi đã từng không chân thành được như ông. Điều ấy làm tôi đôi lúc thấy xấu hổ.

Mấy ngày trước tôi ngồi với ông. Ông cho tôi xem bệnh án với những kết quả xét nghiệm của bác sỹ với thái độ bình thản như từng cho tôi và bạn bè xem một bài thơ vừa sáng tác. Phổi ông có khối u 35 mm với những cái chân như rễ của một củ hành. Và tôi hiểu đó là cái gì. Rồi sau đó ông cho tôi xem bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết tặng ông khi nghe tin ông mắc trọng bệnh. Ông rất xúc động vì bài thơ đó. Ông vẫn thế, vẫn đôi lúc vô tư như một cậu bé. Ông vẫn đi lạc trong trong chính thời đại mà ông đang sống. Tôi đã trò chuyện với không ít những nhà thơ của thế hệ mình. Họ vẫn luôn luôn đánh giá đúng những gì mà ông đóng góp cho thơ ca trong những năm chiến tranh. Ông mãi mãi là nhà thơ số 1 của thời đại ấy.
Chủ nhật ngày 4/12/2011

TH st.

Kỷ niệm thời kháng chiến chống Mỹ

Chị Hạnh

Từ ngày về hưu tôi đâm “sốc”. Con thì học xa, vợ đi công tác dài ngày. Vợ đi được một tuần, đang buồn thì nhận được điện thoại của gia đình người bạn thân cùng học với nhau từ hồi trường Trỗi, thấy tôi ở nhà một mình, bạn mời ra Hà nội chơi. Thế là tôi ngược ra bắc. Hơn tiếng đồng hồ khởi hành từ sân bay Tân Sơn Nhất, qua lớp sương mù Hà Nội đã hiện lên một khoảng sáng mờ mờ dưới cánh bay. Ra khỏi sân bay Nội bài tôi vẫy chiếc Taxi trực chỉ hướng Hà Nội. Con đường cao tốc phẳng lỳ với hai làn đường và những dãy đèn cao áp thẳng tắp, cũng con đường này cách đây hơn ba mươi năm khi tôi còn học đại học, nó chỉ là con đường nhựa liên tỉnh nhỏ hẹp và đầy ổ gà. Mỗi khi về Hà Nội thăm nhà trước khi lên trường bọn tôi thường tụ tập chờ nhau ở “Bánh tôm hồ tây” trên đường Thanh Niên, rồi đạp xe qua Quảng Bá dọc theo bờ đê khoảng hơn 10 km là tới phà Chèm. Qua đò chúng tôi đi đường tắt qua Thanh Tước, và khu đồi 79 mùa xuân ( Chả biết bây giờ còn không ?) là tới thị xã Phúc Yên. Ngã ba Phúc Yên là địa điểm chúng tôi chia tay nhau, đứa vào Xuân Hoà nếu học đại học kiến trúc hay sư phạm, đứa ở lại thị xã PhúcYên nếu học đại học tài chính ngân hàng. Tôi thuộc nhóm đi xa nhất, từ thị xã Phúc Yên bọn tôi còn phải đạp xe thêm gần hai mươi cây số nữa, sau khi chia tay với mấy đứa học đại học xây dựng ở Hương Canh. Lúc này đoàn“hành khất”chỉ còn tôi và Phương. Chúng tôi học ở Đại học kỹ thuật quân sự trên Vĩnh Yên. Gia đình người bạn mời tôi ra Hà Nội chơi hôm nay là vợ chồng Phương hai nhân vật trong đoàn người năm ấy.
Phương đã đợi tôi ở phòng vé Vietnam Airlines đầu đường Quang Trung. Sau cái bắt tay thật chặt và vòng tay quen thuộc Phương đẩy tôi lên xe. Qua đoạn phố cổ rẽ ra đường Điện Biên Phủ, Phương cho xe chạy thẳng, qua ngã tư Trần Phú vẫn hai hàng sấu già quen thuộc, đây rồi vườn hoa “Lê nin” đối diện là khu nhà ở của gia đình tôi ngày xưa. Tới gần cột cờ ngay đầu bảo tàng quân đội, xe rẽ phải rồi lại rẽ phải một lần nữa sau khi chạy được một đoạn thì dừng lại . Nga, vợ Phương đã đứng đợi chúng tôi trước cổng. Sau khi cho xe vào Garage dưói tầng hầm hai người đưa tôi lên nhà. Nga nói với tôi: “ Anh đi tắm cho khoẻ rồi mời anh lên dùng cơm, đồ đạc để đấy em sắp xếp cho”.
Bàn ăn rộng với nhiều món ăn mà người Hà Nội thường đãi bạn bè thân quen lâu ngày gặp lại, Phương bảo:“Hôm nay Nga nghỉ ở nhà để chuẩn bị bữa ăn đón cậu đấy”. Tôi thật sự cảm động trước tình cảm của gia đình bạn. Vợ chồng Phương cũng giống vợ chồng tôi chỉ có một đứa con, con Phương đã lớn, sau khi tốt nghiệp học viện quan hệ quốc tế cháu được gọi bổ sung vào quân đội, hiện là tuỳ viên quân sự tại Cu Ba. Hai gia đình chúng tôi đều giống nhau ở cảnh neo đơn. Trước khi đi ngủ Nga và Phương thống nhất với tôi, Phương nói “ Những ngày ở Hà Nội cậu ở đây với bọn mình, hoặc muốn tự do thì ra khách sạn, bọn mình đã chuẩn bị cho cậu một phòng, xe máy cậu lấy xe của mình đi cho chủ động. Ăn uống sáng và trưa thì tuỳ nhưng dứt khoát bữa tối cậu phải về ăn cơm với vợ chồng mình”. Vợ chồng Phương có một khách sạn nhỏ ở ngay dốc Hàng Than, mảnh đất này Nga được bố mẹ cho, rồi hai vợ chồng xây cất lên.
Thế là tôi đã ở Hà Nội được ba ngày, nhanh thật, chiều nay ngủ dậy muộn, tôi xuống khách sạn, rẽ qua vườn hoa Hàng Đậu cứ thế bách bộ dọc đường Quán Thánh. Hồ tây đây rồi, mặt hồ lấp lánh trong nắng vàng phía xa xa bên kia công viên Lý Tử Trọng. Con đường Thanh niên quen thuộc ngày nào giờ đẹp hơn. Phía bên hồ Trúc Bạch nhà cửa hiện đại quá, đủ kiểu kiến trúc chen lấn áp sát mặt hồ. Quán Bánh tôm Tây Hồ ngày xưa đây, đằng kia gốc Si già quen thuộc bao nhiêu năm vẫn vậy. Tìm lại đúng vị trí thuở trước bọn tôi thường hay ngồi. Sau khi gọi một phần bánh tôm tôi còn nhắn với theo cô nhân viên:“Nhớ cho chú nhiều nước chấm đấy nhé”cô bé phục vụ tủm tỉm cười, chả biết cô cười vì sao? Đang suy tư “gặm nhấm” những kỷ niệm cũ của mình bỗng có tiếng phụ nữ: “ Xin lỗi anh, hai chúng tôi có thể ngồi đây được không?”. Tôi ngẩng lên, trước mặt là hai phụ nữ, họ không còn trẻ nhưng đều đẹp, tôi để ý thấy cô lớn tuổi hơn có một nốt ruồi phía trên môi. “Tôi chỉ có một mình xin mời hai chị”, rồi kéo ghế mời hai người phụ nữ. Họ cảm ơn. Sau khi đã yên vị cô ít tuổi hơn nói: “ Hôm nay em sẽ chiêu đãi chị Hạnh, chị chọn món đi”. Vừa nói cô ít tuổi hơn vừa đưa thực đơn về phía bạn mình. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao hai người phụ nữ kia lại chọn đúng cái bàn mà tôi đang ngồi trong khi những bàn khác ở gần đó còn trống, chắc họ cũng có một nỗi niềm nào đó chăng?
Câu chuyện về chị Hạnh mà tôi muốn kể cho các bạn nghe bắt đầu từ đây. Ngay lúc đầu nhìn người phụ nữ lớn tuổi với nốt ruồi trên môi tôi đã thấy quen quen, hình như mình đã gặp người phụ nữ này ở đâu rồi thì phải. Lục lọi trong bộn bề ký ức, tôi không hiểu đã gặp người phụ nữ này trong hoàn cảnh nào. Họ chuyện trò tự nhiên tôi cố không chú ý đến câu chuyện mà họ đang trao đổi. Chỉ loáng thoáng, họ là hai người bạn cũ lâu ngày gặp nhau, một người vẫn ở Hà Nội còn một người hình như ở nước ngoài mới về. Bỗng có tiếng chuông điện thoại di động người phụ nữ ít tuổi hơn xin lỗi bạn ra ngoài, còn lại người phụ nữ lớn tuổi, chị quay sang phía tôi: “Xin lỗi nếu có gì phiền mong anh thông cảm bỏ qua, chúng tôi là bạn cũ lâu ngày gặp nhau, ngày xưa chúng tôi thường hay ngồi ở đây. Hôm nay biết là phiền anh nhưng chúng tôi không muốn vị trí khác, mong anh thông cảm”.
- Không sao chị đừng bận tâm
Lúc này tôi mới có cớ để xen vào câu chuyện của họ và giải toả những thắc mắc của mình.
- Xin lỗi chị tên là Hạnh?
- Sao anh biết?
- Tôi thấy người bạn của chị gọi như vậy.
- Hơi tò mò một chút, nếu không phải chị bỏ quá cho - Chị làm nghề giáo phải không?
- Ngày xưa, tôi từng là giáo viên, tôi dạy văn nhưng bỏ nghề đã lâu rồi. Người phụ nữ ngạc nhiên.
- Đã có thời gian nào chị dạy ở trường cấp ba Quảng Yên ?
- Trời ơi ! sao anh biết, người phụ nhìn tôi trân trân.
Lúc này thì tôi đã nhận ra trước mặt mình là người đàn bà mà tôi quen biết hơn ba mươi năm trước. Trước đó cái tên Hạnh và nốt ruồi trên miệng đã làm tôi lờ mờ nhận ra chị lúc mới gặp.
- Chị Hạnh! chắc chị không còn nhớ em? Em là Phan đây.
- Trời ơi! người phụ nữ thảng thốt: Phan! Có thật Phan không? rồi hai tay đưa lên ngang ngực như cố kìm nén cảm xúc của mình, chị nhìn tôi đôi mắt loang loáng nước, khi những xúc động đã vơi đi, mãi một lúc lâu chị mới nói:
- Hơn ba mươi năm, Phan thay đổi thế này làm sao nhận ra. Nhiều năm qua chị đã cố tìm Phan mà không được. Bây giờ Phan ở đâu? Cứ tưởng chiến tranh đã cướp nốt Phan rồi.
Người bạn của chị cũng ngạc nhiên không kém về sự gặp gỡ của hai chúng tôi, và để cho chúng tôi nói chuyện. Tôi cho chị số điện thoại cầm tay, địa chỉ khách sạn và hẹn gặp lại, vì chị có buổi gặp gỡ tối nay cùng gia đình, còn tôi cũng không muốn để vợ chồng Phương phải đợi cơm chiều, rồi chúng tôi chia tay nhau....
...Tôi quen chị Hạnh vào đầu năm 1972 khi đơn vị tên lửa của chúng tôi cơ động về trận địa dự bị ở thị trấn Quảng Yên, để bảo vệ thành phố cảng Hải Phòng. Quảng Yên là một thị trấn nhỏ, cách Hải Phòng khoảng 30 – 40 km, trên đường đi Bãi Cháy. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, năm 1971 tôi nhập ngũ và được tuyển vào bộ đội tên lửa cùng với một số sinh viên ở các trường đại học khác. Đơn vị chúng tôi được lệnh gấp rút huấn luyện chuyển loại tên lửa mới. Sau gần một năm huấn luyện đơn vị tôi được điều động về thành phố cảng Hải Phòng để chuẩn bị đánh trả lại chiến dịch tập kích của không quân Mỹ cuối năm 1972. Trận địa chúng tôi nằm trên quả đồi nhỏ. Khi chúng tôi đưa khí tài về thì trận địa đã được chính quyền địa phương huy động nhân dân đóng góp công sức làm xong. Chúng tôi chỉ còn việc triển khai đội hình và bắt đầu luyện tập các phương án chiến đấu. Ngày ấy tôi là một chàng trai 18 tuổi, cao 1m70, trắng trẻo đẹp trai, ham mê nhiều môn thể thao lại thêm gần một năm ăn uống tập luyện đầy đủ theo chế độ đặc biệt nên tôi càng vạm vỡ và sung mãn. Bên trong cơ thể cường tráng ấy là một tâm hồn tươi trẻ, lãng mạn và đầy nhiệt huyết. Ngoài thời gian trực chiến chúng tôi đá bóng, chơi thể thao và hoạt động văn nghệ và tối tối vẫn có kẻ chong đèn làm thơ, đọc tiểu thuyết. Tôi là uỷ viên trong ban chấp hành đoàn của đơn vị, chi đoàn của chúng tôi kết nghĩa với chi đoàn trường cấp ba Quảng Yên nơi chị Hạnh dạy học. Chị Hạnh lúc đó khoảng 24 hoặc 25 tuổi đã có chồng và có một cô con gái nhỏ, cháu tên Hương, khoảng một hai tuổi, chị là bí thư đoàn của trường. Chồng chị tên Sơn, là hoạ sỹ anh ấy công tác ở sở văn hoá thông tin tỉnh Quảng Ninh, cơ quan mãi tận thị xã Hòn Gai, thỉnh thoảng một vài tháng mới về thăm nhà. Tôi cũng không mấy quan tâm đến đời tư của chị chỉ biết chị là người Hà Nội, là đồng hương và do có quan hệ công tác nên hai chị em thân và quý mến nhau. Đơn vị có tôi và Cường là dân Hà Nội ngày nghỉ chúng tôi thường ra nhà chị chơi. Nhà chị là một căn nhà cũ nằm trong thị trấn, mái lợp ngói âm dương, phía dưói là bếp và công trình phụ, phía trên có một căn gác xép đủ kê được một cái giường, một cái bàn làm việc và cái tủ nhỏ, sàn nhà lát bằng gỗ. Trước nhà là khoảng vườn có một cây Dâu da to, bóng lá phủ kín cả khoảng sân, chị nói nhà này là của một gia đình học sinh không có ai ở, cách đây hai năm sau đám cưới chị, đứa học sinh nói với gia đình cho vợ chồng chị mượn. Hàng ngày đi dạy học chị thường gởi con cho bà cụ hàng xóm ở gần. Chúng tôi thỉnh thoảng tới thăm chị, thường là vào sáng chủ nhật, khi thì giúp chị chẻ củi, khi thì giúp chị đi mua gạo, xách nước hay sửa lặt vặt đồ đạc trong nhà.
Từ 16 tháng 4 năm 1972 trở đi chúng tôi bị cuốn hút vào những trận đánh, tôi chưa từng thấy một chiến dịch tập kích nào của không quân Mỹ lại ác liệt và kéo dài đến thế. Suốt đêm 16 tháng 4 năm 1972 bọn Mỹ sử dụng rất nhiều loại máy bay và từ nhiều hướng đánh vào Hải phòng kể cả máy bay ném bom chiến lược B.52. Đơn vị của chúng tôi bắn không biết bao nhiêu tên lửa mà hiệu quả rất thấp do bọn Mỹ sử dụng các loại nhiễu mới làm giảm khả năng phát hiện và điều khiển tên lửa. Suốt một ngày một đêm mà đơn vị tôi chỉ hạ được có mấy chiếc trong khi đạn của chúng tôi bắn lên với cơ số lớn. Đơn vị chúng tôi bị thiệt hại nhiều, một phần ba số trận đia của đơn vị bị máy bay địch đánh phá, có trận địa bị bom và tên lửa không đối đất của địch san phẳng. Cuối năm mật độ của máy bay Mỹ hoạt động trên không phận Hải Phòng thưa dần. Chúng tôi được phổ biến có thể địch chuẩn bị lực lượng để tập trung đánh vào Hà Nội tạo quả đấm chiến lược buộc ta phải thay đổi một số điều khoản trong hội đàm bốn bên tại Pari. Đơn vị chúng tôi vẫn luôn trong tình trạng cảnh giác chiến đấu cao, sẵn sàng đánh trả máy bay Mỹ bất cứ lúc nào.
Vào khoảng tháng tám năm đó, vì đã lâu chúng tôi không ra thăm chị Hạnh hôm ấy cũng vào chủ nhật Cường phải ở nhà trực chiến tới 9 giờ mới hết ca, tôi nói với Cường: “Đã lâu rồi không ra thăm chị Hạnh chẳng biết mấy tháng qua máy bay Mỹ ném bom ác liệt như thế gia đình chị có sao không? chị còn ở chỗ cũ hay đi sơ tán theo trường, tớ ra trước khi nào cậu hết trực thì ra nhé cứ đến chỗ nhà cũ của chị xem sao”.Qua đoạn đường nham nhở hố bom một vài ngôi nhà bị bom làm sập và tốc mái, thị trấn vắng vẻ quá, hàng cây Cơm Nguội dọc hai bên đường đang mùa ra trái, những trái tròn nhỏ ly ty bằng đầu đũa chín đỏ ẩn hiện trong vòm lá xanh. Nhìn những trái Cơm Nguội tôi lại nhớ tuổi thơ của mình.
Thật may khi ra tới nơi chị Hạnh có nhà.Tôi ra chơi chị mừng lắm, chị nói:“Thấy máy bay Mỹ đánh vào trận địa của bọn em, chị lo quá, trường thì sơ tán ở xa, vừa lo dạy vừa lo đảm bảo an toàn cho học sinh chị không biết làm cách nào để tới thăm bọn em được, không biết có ai việc gì không?”Chị mới chuyển về lại thị trấn tuần trước, đang định vào trận địa thăm bọn em”.Tôi nhìn quanh: “Bé Hương đâu hả chị , anh Sơn có hay về không?” Chị nói: “Cháu chị gởi về Thuỷ Nguyên với bà nội còn anh Sơn cũng nhập ngũ rồi đang huấn luyện ở Mai Sưu, Hà Bắc.
Thời gian trôi đi, cuối năm 1972 vì có thành tích trong chiến đấu, tôi được đơn vị chọn về tập trung tại trường văn hoá của quân chủng ôn luyện chuẩn bị cho đợt thi đại học vào tháng 7 năm sau. Trước khi đi học đơn vị cho tôi được nghỉ phép về thăm nhà trong dịp tết. Mùa đông năm 1972 thật lạnh, trời mưa phùn cộng với gió mùa đông bắc càng làm cho da thịt thêm tê tái. Nhận giấy phép buổi chiều, sau khi chia tay với anh em trong đơn vị, Cường đưa tôi ra bến xe thị trấn để đón xe về Hải Phòng. Ra tới bến xe hỏi người trực bến tôi được biết còn một chuyến xe cuối ngày, khoảng 6 giờ tối mới chạy. Tôi nói với Cường:“Thôi cậu về đi, mình nhất định sẽ đem thư và tới nhà thăm bố mẹ cậu, cứ yên tâm”. Nhìn bóng Cường gò lưng đạp xe ngược chiều gió khuất dần sau dãy phố trong buổi chiều cuối năm u ám tự nhiên tôi thấy lòng mình buồn tê tái. Sáu giờ, rồi bảy giờ chẳng thấy chuyến xe nào, bến xe vắng tanh. Đang phân vân, có nên quay lại đơn vị rồi sáng mai đi sớm hay không?Tôi quyết định chờ thêm một lúc nữa. Cho tới chín giờ thì mọi hy vọng của tôi đã tiêu tan, lòng bồn chồn phần vì đã lâu không được về thăm nhà, phần vì không hiểu trong đợt đánh phá của không quân Mỹ vào Hà Nội cuối tháng chạp vừa rồi gia đình tôi có sao không? Việc được chọn đi học cộng với cấp trên cho nghỉ phép tết về thăm gia đình làm cho tôi xốn sang, hồi hộp, nôn nao khó tả. Cho tới lúc này tôi mới cảm thấy trống trải, cô đơn. Đang lang thang không biết nên ở lại bến xe chờ cho tới sáng mai hay quay trở về đơn vị, Tôi bỗng nhớ tới chị Hạnh. Việc quan trọng thế mà không báo cho chị Hạnh biết, ít ra thì cũng xem chị có nhắn hoặc gửi gì về cho gia đình không? Thật chẳng ra làm sao cả, thế mà cũng mang tiếng chị em đồng hương thân thiết tôi cảm thấy xấu hổ về sự bàng quan của mình. Xốc lại ba lô, kéo cổ áo lên cao cho đỡ lạnh tôi băng qua vài con phố nhỏ, ánh đèn vàng hắt hiu, đường phố thưa thớt bóng người, hai dãy phố cửa nhà đã đóng im ỉm, chỉ thỉnh thoảng một vài nhà có ánh điện le lói qua cánh cửa chớp khép kín, từng đợt gió lùa những đám lá vàng đuổi nhau chạy trên đường nghe xao xác. Chẳng mấy lúc tôi đã đứng trước nhà chị Hạnh, vẫn thấy trong nhà có ánh điện, tôi gõ cửa. Trong nhà tiếng chị Hạnh hỏi vọng ra: “Ai đấy”! - “Em đây, em Phan đây, mở cửa cho em với”, tôi nói qua khe cửa. Rồi nghe tiếng bước chân gấp gáp của chị. Vừa mở cửa chị vừa ngạc nhiên: “ Vào đi em, sao Phan tới chơi muộn thế, có việc gì không em?”. Đỡ ba lô cho tôi, chưa kịp để tôi trả lời chị đã hỏi : “Phan ăn cơm chưa? để chị nấu, nhà có mỳ sợi, chị nấu mỳ với cà chua cho Phan ăn”. Trong khi chờ chị chuẩn bị đồ ăn tôi nói rõ hoàn cảnh của mình lúc này cho chị biết. Chị nói; “Có gì đâu mà ngại, Phan cứ nghỉ lại đây sáng mai ra bến xe cho tiện, nhân thể chị cũng gởi lá thư chúc tết và ít tôm khô về cho bố mẹ chị. Tôi ăn xong, chờ chị viết thư và gói quà, tôi cho tất cả vào ba lô gọn gàng theo thói quen ngưòi lính, định bụng sáng mai cứ thế “Hành quân” chẳng còn sợ quên gì nữa. Sau khi trải chiếu xuống sàn nhà gỗ và lục tìm một hồi chị cũng kiếm được cho tôi một chiếc chăn chiên. Chị ái ngại: “Thôi Phan nằm tạm thế này vậy”. trên giường bé Hương đã ngủ từ chập tối, tôi nói: “Chị đừng lo, em mặc cả quần áo cộng với chiếc chăn này nữa cũng ấm chán, với lại bây giờ cũng đã hơn mười giờ rồi còn mấy tiếng nữa là sáng chị cứ yên tâm”. Chị dục tôi đi ngủ, chị lên giường với bé Hương, qua ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn ngủ tôi và chị còn nói chuyện mãi. Nghe chị kể tôi mới biết anh Sơn đã vào chiến trường. Chị nghẹn nghào “thế là anh Sơn đã đi xa rồi Phan ơi”. Kể tới đây chị im lặng tôi nghe tiếng chị thở dài, và cả tiếng khóc. Từ lúc đó trở đi tôi không làm sao ngủ được, phần vì háo hức được trở về nhà, phần vì lạnh, phần nghĩ về hoàn cảnh của chị, tôi thấy thương chị vô cùng. Ngoài trời từng đợt gió lướt qua tán lá của cây Dâu Da trong vườn nghe tê tái, đâu đó có tiếng chim đêm khắc khoải, càng về khuya tiết trời càng lạnh tôi trằn trọc không sao ngủ được. Khoảng 1-2 giờ đêm đang thiu thiu, tôi nghe tiếng chị khe khẽ: “Phan không ngủ được à? Có lạnh lắm không? Hay là Phan lên giường ngủ với cháu Hương cho đỡ lạnh. Vốn trong sáng và vô tư cộng với trời lạnh quá, tôi nghe theo lời chị. Trên giường, chị nằm trong, bé Hương nằm giữa tôi nằm ngoài. Đang lạnh vớ được chăn bông ấm cộng với mùi thơm là lạ, đặt mình xuống chỉ mấy phút sau tôi ngủ như chết chẳng còn biết trời đất là gì. Trong giấc ngủ tôi nằm mơ thấy đơn vị chúng tôi bị máy bay Mỹ tấn công, bom và tên lửa của chúng bắn phá dữ dội vào trận địa, cả trận địa ngập trong máu và lửa, người tôi nóng bỏng. Tôi bị thương, tôi cảm thấy cơ thể phía dưới của mình bỏng rát và hình như cả máu nữa, thằng Cường nó ôm chặt lấy tôi, nó luồn tay lần sờ trên khắp cơ thể tôi, như xem tôi còn có bị thương ở chỗ nào nữa không? Và nó cởi hết quần áo tôi để cho cứu thương băng bó. Tôi giật mình tỉnh dậy, trong cái cảm giác nửa tỉnh nửa mơ, mồ hôi tôi vã ra, và rõ ràng trên cơ thể tôi là một cơ thể khác mềm mại và nóng bỏng đang ghì chặt lấy tôi, trời ơi chị Hạnh! Chị khẽ đưa tay lên bịt lấy miệng tôi. Tiếng kêu ấy trong tiềm thức, hay vì ngạc nhiên, bối rối mà tôi kêu lên như thế cũng không biết nữa. Chị hôn tôi, chị hôn khắp cơ thể tôi, bàn tay chị mềm mại lướt trên da thịt tôi, một cảm giác lâng lâng, bồng bềnh mà lần đầu tiên trong đời tôi biết. Lúc này lý trí của tôi hoàn toàn tê liệt, tôi chỉ còn hành động theo bản năng, làm theo bàn tay hướng dẫn, chỉ bảo của chị, mò mẫm, ngập ngừng như một cậu học trò ngoan ngoãn. Dần dần tôi chủ động hơn, tôi phản ứng lại mãnh liệt tình cảm của chị dành cho mình. Tiếng chị rên khe khẽ, chị cố kìm nén cảm xúc, hay sợ bé Hương tỉnh giấc mà tự lúc nào con bé đã được chị chuyển vào phía bên trong giường. Tuổi 18 của tôi đầy sung mãn nhưng hình như tuổi trẻ cũng bất lực trước cơn bão lòng dữ dội của người phụ nữ một con lại xa chồng trong một đêm đông đầy tâm trạng. Đêm ấy không biết bao nhiêu lần tôi thức giấc, mỗi khi tỉnh dậy thì mọi việc đã gần như an bài, giống như trận địa sau khi giao chiến, tôi chỉ còn như người lính hậu cần đi phía sau làm nhiệm vụ dọn dẹp chiến trường, chị chủ động tất cả. Rồi hai chúng tôi thiếp đi. Mở mắt ra thì trời đã gần sáng, gỡ vòng tay chị đang ôm lấy mình, lồm cồm bò dậy, mặc vội bộ quần áo, lúc này cảm giác mặc cảm tội lỗi dâng tràn trong tâm trí tôi. Qua ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn ngủ khuôn mặt thân quen, ẩn dưới mớ tóc đen dày xoã trên gối, trông chị thật thanh thản. Tôi ôm vội chiếc ba lô, nhẹ nhàng xuống thang gác, lách mình qua cánh cổng, sau khi thò tay chốt lại khoá bên trong tôi đi như chạy ra bến xe, may mắn vừa kịp chuyến xe sớm về Hải Phòng.
Mấy ngày nghỉ phép chóng vánh trôi qua, trở lại đơn vị tôi giống như con chim non sợ cành cong, tôi trốn chạy không dám gặp lại chị mà phải nhờ Cường đem thư và quà gia đình chị gửi cho. Trước khi đi học tôi cũng không dám ra nhà để từ biệt chị. Sau khi tôi đi học, đơn vị tôi cũng được lệnh hành quân di chuyển đi nơi khác. Từ cái đêm đông giá rét năm 1972 ấy cho tới hôm nay gặp lại chị là đúng 33 năm và chuyện ngày xưa tôi cũng đã quên đi không còn nhớ nữa.
Tối nay chị hẹn sẽ tới thăm tôi tại khách sạn. Đang chuẩn bị mấy thứ đồ uống để mời khách, tôi nghe tiến chuông điện thoại. Đầu dây bên kia tiếng cô bé tiếp tân: “Chú có khách, cô ấy tên là Hạnh”. “ Đúng rồi! cô ấy là khách của chú, cháu cho cô ấy lên”- Tôi trả lời. Có tiếng gõ cửa, chẳng kịp để tôi ra mở, chị đã ào vào phòng như một cơn bão, chị nhào tới ôm lấy tôi, chị gục mặt trên vai tôi và khóc, đôi vai chị rung lên, xen trong tiếng nấc. Tôi vô cùng bối rối, sự việc xảy ra quá nhanh tôi chẳng kịp phản ứng gì cả. Phải mất đến mấy phút để cho những xúc động của chị vơi đi, dìu chị ngồi xuống ghế tôi lấy khăn và nước mời chị. Mãi sau chị nói: “ Đêm nay chị ở lại đây với Phan được không?” Tôi trả lời:“Chị ở đây cả tuần cũng được, Phan muốn nghe chị kể những năm tháng đã qua chị sống ra sao?”
Đêm ấy chúng tôi không ngủ, chị kể về quãng thời gian sóng gió, khó khăn và đầy biến cố của đời mình từ ngày anh Sơn chồng chị vào chiến trường, và sau cái đêm “giông bão” mùa đông năm ấy, chị kể: Sau hiệp định Pari về Việt Nam cuối năm 1972 đầu năm 1973. Miền Bắc sống trong hoà bình, trường của chị từ nơi sơ tán trở về thị trấn, chị tiếp tục dạy học, cuộc sống ngày càng khó khăn. Cuối năm 1973 chị sinh cháu trai, kỷ vật của anh Sơn trước khi vào chiến trường. Ngoài dạy học, chị làm thêm đủ nghề để sinh sống, trồng rau, nuôi heo, chị còn học thêm cả nghề may để may gia công cho hợp tác xã. Cuộc sống cứ thế trôi qua cho tới năm 1975 chị cũng như bao người phụ nữ khác có chồng ra mặt trận mong ngày đón người chiến thắng trở về, chờ mãi tới năm đầu 1976 thì chị nhận được tin anh đã hy sinh. Chị đã khóc, khóc không còn nước mắt, tinh thần suy sụp, chị nói thời gian ấy chị chẳng muốn sống nữa cũng may học sinh và anh chị em giáo viên trong trường đông viên an ủi, giúp đỡ và nhất là chị nghĩ tới hai đứa con còn thơ bé mà chị đã vượt qua để sống và nuôi con. Cuối năm 1979 “Sự kiện xua đuổi ngưòi Hoa”rộ lên khắp trong Nam ngoài Bắc, nhất là ở Hải Phòng và Quảng Ninh làn sóng người Hoa vượt biên công khai được chính quyền địa phương “Cho phép”.Trong trường, chị có người đồng nghiệp là người Hoa, sau khi phân tích đã khuyên chị nên đi, nếu đi họ sẽ giúp đỡ, vì họ cũng tổ chức ra đi cho cả gia đình. Sau bao đêm suy nghĩ và cuối cùng chị đã quyết định đưa hai con xuống tàu rời bỏ quê hương. Một năm sống tại trại tỵ nạn Hông công, chị được tổ chức di dân quốc tế đưa tới Canada. Ở Canada gần 30 năm, cuộc sống của chị bây giờ đã ổn định, hai đứa con chị đã lớn, Hương đã lấy chồng, cháu có công ty riêng hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, tài chính. Cháu trai là chuyên viên của một công ty máy tính đa quốc gia, còn độc thân, chị sống với người con trai. Chị đã nghỉ việc hưởng trợ cấp, hàng năm thường về Việt Nam thăm họ hàng. Nhắc lại chuyện cũ, chị vô cùng ân hận về chuyện xảy ra ngày xưa giữa hai chúng tôi. Chị cũng không hiểu nổi vì sao lại có phút giây “ điên loạn” như thế. Chị nói sau những ngày ấy chị đã tìm tôi để giải thích và mong tôi tha thứ mà không làm sao tìm được. Còn bây giờ chắc chẳng cần phải giải thích nữa phải không Phan, vì chúng ta đều “đã lớn” sự từng trải đã giúp chúng ta hiểu. Con người trong một hoàn cảnh cụ thể nào đấy có những phút giây yếu đuối, chúng ta có thể tha thứ cho nhau. Gịong chị buồn buồn: “Còn chuyện của chị và Phan ngày xưa nó có những éo le riêng mà chị đã chôn chặt trong lòng cho tới tận hôm nay”. Chị kể: “Càng lớn Dũng, con trai chị nó càng giống Phan và chị lờ mờ hiểu rằng Dũng không phải là giọt máu của anh Sơn để lại cho chị. Khi còn nhỏ và cho tới tận bây giờ hai đứa con chị chúng luôn tin rằng bố của chúng là một người anh hùng đã hy sinh cho tổ quốc, hai đứa chúng nó rất yêu thương nhau và kính trọng chị chúng hiểu chị đã hy sinh tất cả cho chúng. Chị nói:“Có sự thật khi nói ra, trái tim ta được giải thoát trở nên nhẹ nhõm và thanh thản. Ngược lại có sự thật thời gian qua đi, ta không dám đụng chạm tới, cứ để yên như vốn dĩ từ trước đến nay vẫn vậy, và thừa nhận nó. Chị đã chọn cho mình cả hai giải pháp. Giải pháp thứ hai chị dành cho hai đứa con của mình. Còn giải pháp thứ nhất chị dành cho Phan. Dù cho Dũng không phải là giọt máu của anh Sơn, một người anh hùng thì nó cũng là giọt máu của một người lính đã dâng hiến và hy sinh một phần tuổi trẻ của mình cho tổ quốc mà chị hết sức yêu quý. Chị luôn cầu mong nếu như Phan còn sống chị sẽ tìm gặp được Phan và điều mong ước ấy đã trở thành sự thực, một sự diệu kỳ như trong mơ và bây giờ thì chị chẳng còn ân hận gì nữa khi gặp lại được Phan và nói cho Phan biết sự thật về câu chuyện của hơn 30 năm trước”.
Các bạn thân mến! Câu chuyện trên hoàn toàn có thật của một người bạn Trỗi, một người anh, một đồng đội cũ của tôi, hiện anh là sỹ quan cao cấp, vẫn còn phục vụ trong quân đội. Tôi muốn viết ra, kể lại để các bạn nghe và các bạn cùng tôi hiểu thêm trong cuộc đời có nhiều những chuyện éo le và phức tạp, đầy trắc ẩn và cũng giàu tình người và lòng nhân ái câu chuyện này là một trong những chuyện như thế. Mong rằng khi đọc xong câu chuyện này xin các bạn cũng đừng hỏi gì tôi thêm nữa nhé. Tôi không giữ mồm giữ miệng được mà “toe” ra thì “rách” việc lắm các bác ơi.
Duy Đảo – K6
T/P Hồ Chí Minh – Mùa mưa năm 2005
TH st.

Một kỷ niệm của lính Trỗi với Y Hòa

Vết xăm - kỷ niệm của Y Hoà

Y Hòa xa chúng ta đã 36 năm. Đợt vừa rồi các bạn Đạt “bột”, Vũ Anh, Thái, Vũ Trung và đồng đội F312 của Y Hòa đã tới đồi Cháy, Quảng Trị tìm bạn. Nhưng công việc mới chỉ là bắt đầu… Riêng tôi suốt bốn chục năm qua vẫn mang trên người một kỷ niệm của Y Hòa. Đó là vết xăm do chính tay Y Hòa thực hiện.
… Hơn bốn chục năm trước, chúng ta mới chỉ là những chú nhóc 12-13 tuổi, từ gia đình về sống dưới mái trường quân đội. Ngày đó chiến tranh, phải sống xa Hà Nội đến gần trăm cây số, núi rừng chỉ cách lớp học có “mấy lần quăng dao”. Ngày lên lớp nhưng đêm đến là nhớ mẹ, lắm đứa không kìm được đã trùm chăn khóc rưng rức, chỉ mong chủ nhật mẹ lên thăm.
Trên lớp chúng ta có những đàn anh lớn, nhất là cánh từ các trường học sinh Miền Nam về, họ là những “người dẫn lối”. Các anh Mai Sinh, Mai Tự, anh Quyết Thắng, Ngô Ngời… dạy cho các trò nghịch ngợm của cánh học sinh miền Nam. Bọn trẻ chúng ta từ Hà Nội lên thực sự lớ ngớ nhưng khi gặp những trò “hay như thế” thì lao vào học như những con thiêu thân. Học thày không tày học bạn! Chỉ sợ thày biết(!) nhưng anh em vẫn kéo nhau ra sau nhà, hay vào rừng thì thụp thụ giáo.
Nào là trò “muỗi Sài Gòn”: Con muỗi được “chế” bằng que diêm Cầu Đuống (ra Cung tiêu ở Gốc đa mua) đã cháy thành than, một đầu dính bằng kem đánh răng (thậm chí bằng “bựa” răng!) vào bất cứ chỗ nào trên thân thể nạn nhân (đau nhất là vùng da non trên đùi) rồi khẽ chấm mồi lửa vào đầu còn lại. Veo một cái, mồi lửa theo thân diêm nghiến vào da thịt. Kẻ chịu nạn chỉ kịp xoa tay vào “vết đốt”. Tức đến trào nước mắt. (Chuyện này các bạn gái không hề biết. Nay biết thì cũng đừng cười bọn con trai chúng tớ!).
Trò cao cấp hơn là xăm lên mình các hình mỏ neo, hình ngôi sao, đầu con hổ hay mũi tên xuyên qua trái tim(!), v.v… Thú xăm lên ngực, lên cánh tay chỉ dành cho những ai không sợ đau. (Chính xác hơn là không biết đau là gì!). Thật khó tưởng tượng điều này lại xảy ra với những lũ trẻ ranh ở lứa tuổi chúng ta. Một cái kim khâu làm bút xăm cùng mực tàu được mài sẵn cất lọ. Ông họa sĩ “bất đắc dĩ” dùng bút vẽ phác lên hình đã chọn, tại vị trí đã thỏa thuận. Rồi từng mũi kim tẩm mực tàu, đâm ngập từng mũi vào da thịt, theo hình đã phác. Anh em dạy nhau: Các mũi xăm càng mau thì sau này hình càng đẹp. Và “tác phẩm” dần hình thành dưới đôi tay “họa sĩ”. Còn “kẻ chịu nạn” thì hai bàn tay nắm chặt, cắn răng chịu đựng, nước mắt chảy ròng ròng nhưng miệng không bật ra tiếng. Chỉ thỉnh thỏang hỏi bạn: “Sao lâu thế? Sắp xong chưa?”. Hàng tiếng đồng hồ trôi qua… Gần như đứa nào đã “chịu” thì theo đến cùng. Xong xuôi phải khóac ngay áo che khu vực đã xăm. Chỉ cần một lần thày giáo biết được là… kỷ luật!
Đêm đầu tiên mới kinh khủng làm sao! Các vết xăm bị nhiễm trùng, gây nhức nhối. Trằn trọc không ngủ được. Có đứa bị sốt cao, phản ứng, phải đi bệnh xá. (Vì thế mà trò này bị lộ). Còn kẻ qua được thì sớm hôm sau phờ phạc nhưng vẫn phải cố “ra vẻ ta đây”(!). Cứ như vậy, vết thương lành dần và trên ngực, trên tay có những hình xăm tuyệt đẹp. Rồi thằng này khoe thằng kia. Rồi… rồi… không ít thằng trong chúng ta đã được xăm.
Tôi và Y Hòa thân nhau, cùng trong nhóm nghịch của lớp. Một lần hắn rủ rê: "Mày thích xăm không?". "Xăm gì?". "Hình mỏ neo". "Đau lắm?". "Không sao!". "Ai xăm?". "Tao". "Mày?". "Yên tâm đi! Anh Y Nguyên của tao học được trò này của các anh ở Trường Dân tộc. Tao từng xem ông anh xăm cho bạn rồi bày cho tao cẩn thận".
Rồi chẳng hiểu ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế nào mà tôi “hiến thân” cho nó. Mùa đông đầu tiên khi vừa sang Quế Lâm thật lạnh giá. Nước đóng băng. Đứa nào cũng áo bông dày cộp che kín người. Chủ nhật nghỉ học, hắn rủ tôi lên lớp ngồi xăm. (Để thầy không biết). Y Hòa đã chọn vai phải và xăm lên hình cái mỏ neo. Cố chịu lạnh để trần nửa người, lộ ra phần vai cho nó xăm. Mất cả buổi sáng… Và sự việc đãy xảy ra như với các bạn từng “chịu nạn”.
Bốn chục năm trôi qua, cái hình mỏ neo không bị mờ đi. Năm 1972, Y Hòa hy sinh, nhưng vết xăm ấy vẫn sống trên thân thể tôi như một phần máu thịt của Y Hòa còn tồn tại trên đời!
Những ngày tháng 3/2008, anh em đi tìm bạn…
Hồi ức của Văn Hùng k7(Cựu cầu thủ CAHN).
TH st.   

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2011

THẾ GIỚI MUÔN MÀU








































GTC st

SEX TRAINING

Tờ Thanh Niên có bài báo với tựa đề "Khởi động Sex Training Tour 2011".


Không hiểu tại sao Thanh Niên lại đặt cái tựa đề nửa Tây nửa Ta như thế! Có bao nhiêu người đọc Thanh Niên am hiểu tiếng Anh để hiểu cụm từ “Sex training tour” là gì. Chắc không nhiều. Training có nghĩa là rèn luyện, tập luyện, tập huấn, đào tạo. Còn danh từ sex thì … có nhiều nghĩa: nghĩa đơn giản nhất là giới tính; nghĩa phức tạp hơn là giao phối. Thật ra, ngày nay ở Việt Nam, nói sex thì chắc nhiều người đã hiểu và sex có khi trở thành một từ trong từ vựng tiếng Việt (?). Còn tour là chuyến đi du lịch, đi chơi. Do đó, sex training tour có lẽ nên hiểu là chuyến du lịch về tập luyện giao cấu. Như vậy, sex training tour đâu có nghĩa “Chương trình du lịch giáo dục giới tính” mà Thanh Niên dịch.
Thật ra, sex tour hay sex tourism là một loại hình du lịch hàm ý tiêu cực, nếu không muốn nói là xúc phạm. Nói đến du lịch sex người ta nghĩ ngay đến du lịch kèm theo các hành vi mua bán dâm với đĩ điếm ở nước sở tại. Một thời gian dài, Thái Lan ăn nên làm ra vì những loại hình du lịch này. Người Tây phương, nhất là những kẻ có học vấn thấp ở các nước như Úc, Mĩ, Âu châu, v.v… nhìn Thái Lan như là một thị trường du lịch sex, nơi mà họ có thể bỏ tiền ra mua dâm một cách rẻ mạt, để thể hiện cái thực dân chủ nghĩa thời xa xưa của cha ông họ. Không ai nghĩ là Việt Nam muốn tự biến thành một địa điểm sex tourism hay sex training tourism, vì như thế thì nhục lắm.
Đọc đến đoạn cuối của bản tin tôi mới biết rằng mục tiêu của chương trình du lịch là “giáo dục giới tính”, hay nói theo tiếng Anh là Sex Education. Giáo dục giới tính là một thuật ngữ chung để nói đến những chương trình giáo dục về sinh lí, tái sản sinh, sức khỏe giới, v.v… Vậy thì tại sao không đặt tựa đề bản tin là “Khởi động chương trình du lịch giáo dục giới tính”? Sao lại “chơi nổi” để cho ra một tựa đề [xin lỗi] lai căng như thế nhỉ? Chẳng những lai căng mà con sai ý nghĩa. Xin nói thêm rằng tuy hai chữ education và training có cùng một phạm trù về nghĩa, nhưng education là hàm ý nói đến lí thuyết, khái niệm, khoa học; còn training là chủ yếu đề cập đến thực hành, kĩ năng, dạy nghề. (Bộ Giáo dục và Đào tạo là Ministry of Education and Training).
Các chuyên gia thường khuyến khích nên viết tiếng Anh đơn giản. Đối với tiếng Việt cũng thế: chọn chữ nào càng đơn giản và dễ hiểu càng tốt. Tránh những cái tựa đề hay câu chữ lâu lâu chen vào mấy chữ Anh như teen, top hit, album, hay vô duyên hơn là sex training.
Lại nói đến chữ training. Ví dụ: thông thường trong nghiên cứu y khoa, y tá cùng bác sĩ thu thập dữ liệu, và các chuyên gia tiến hành đo lường các chỉ số sinh hóa, nên người ta thường có câu “Data collection was done by a trained nurse and a doctor. The skeletal measurements were done by a trained technologist”. Chữ trained nurse hàm ý nói rằng y tá được huấn luyện để thu thập dữ liệu, và trained technologist là nói rằng chuyên gia được tập huấn để làm đo lường. Có người trong ban biên tập phê bình rằng chữ trained thường hay dùng cho ... chó (như trained dog) chứ không nên dùng cho người. Vả lại, đã là y tá hay technologist và đã tham gia nghiên cứu thì phải qua đào tạo rồi, nên viết trained nurse là thừa. Ai cũng sững sờ trước nhận xét này vì bấy lâu nay ai cũng sử dụng cách viết đó như là một quán tính mà không ai để ý đến ý nghĩa thật của nó. Nói như thế để thấy rằng cần phải cẩn thận với việc dùng chữ training hay trained. Cách "an toàn" nhất là dùng từ đơn giản và có ý nghĩa mà ai cũng hiểu.


ĐôĐH st




Nhắm mắt lại sẽ thấy mọi điều đều tuyệt vời!

Xem Video này là các bạn sẽ thấy được điều đó...hì hì hì...



VND st

Thứ Sáu, 2 tháng 12, 2011

Vì sao bão mang tên phụ nữ?

Lê Hoàng
Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí


Trên thế giới, chỉ có việt nam là gọi bão theo số, còn toàn cầu đều đặt tên bão theo các danh từ mỹ mìêu và thơ mộng vẫn dùng để gọi các cô gái dịu dàng và xinh đẹp.




Trên thế giới, chỉ có việt nam là gọi bão theo số, còn toàn cầu đều đặt tên bão theo các danh từ mỹ mìêu và thơ mộng vẫn dùng để gọi các cô gái dịu dàng và xinh đẹp.
Đã nhiều lần tổ chức bảo vệ nhân quyền kêu ca về vấn đề này, và các quốc gia cũng thử sữa chữa. Nhưng than ôi, hễ đặt tên bão khác đi, thì hoặc nó không đến, hoặc tệ hơn nó đến mà hổng ai đề phòng, gây hậu quả thảm khốc.



Gần đây , các nhà khoa học đã tổ chức hội thảo, xem xét sự giống nhau và khác nhau giữa 1 cơn bão và 1 “quý cô”. Cuối cùng họ đã đưa ra kết luận như sau:
Sự giống nhau:
1 - Bão và phụ nữ đều hình thành từ những vùng bí hiểm và từ những nguyên nhân bí hiểm.
2 - Đường đi của bão và phụ nữ đều không thể đoán trước.
3 - Cả phụ nữ và bão đều có thể bất ngờ mạnh lên.
4 - Cả 2 đều có kèm theo mưa.
5 - Cả hai đều có thể gây hư hại cho cây cối, nhà cửa và hoa màu.
6 - Trước khi bão tới và trước khi phụ nữ nổi giận, trời rất đẹp.
7 - Vật thổi tung trước tiên thường là quần áo.
8 - Phương pháp đề phòng tốt nhất là đóng cửa ngồi im trong nhà,
9 - Có nhiều tiếng nức mạnh.
10 - Muốn tồn tại đều phải biết sống chung.


Còn sau đây là những điểm khác nhau cơ bản:
1 - Bão nổi lên theo mùa, phụ nữ nổi lên quanh năm
2 - Bão tàn phá lung tung, phụ nữ nhiều lúc chỉ tàn phá 1 chỗ
3 - Bão càng ngày càng yếu đi, phụ nữ càng ngày càng mạnh lên
4 - Bão ồn ào mới đáng sợ, phụ nữ yên lặng mới đáng sợ hơn.
5 - Trời nổi bão khi khí lạnh về, phụ nữ nổi bão khi quý ông không về.
6 - Bão mạnh khi nó to, phụ nữ mạnh khi họ nhỏ
7 - Muốn an toàn ta phải chạy xa bão, muốn an toàn ta phải lại gần phụ nữ.
8 - Bão làm đắm thuyền, phụ nữ làm đắm mình.
9 - Bão cần mây tan, phụ nữ chẳng cần mây gì hết.




Sau khi kết luận này đưa ra, chị em phản đối kịch liệt, đến mức các nhà khoa học phát hoảng, phải triệu tập khẩn cấp một cuộc họp so sánh bão với đàn ông và đưa ra bảng tổng kết là:
A- Sự khác nhau giữa bão và đàn ông:
1. Bão kèm theo sấm chớp, đàn ông chỉ kèm theo những lời hứa suông.
2. Bão hay đổ bộ vào vùng quen. Đàn ông hay đổ bộ vào vùng lạ.
3. Bão đôi khi không chịu vào bờ, đàn ông đôi khi không chịu xa bờ.
B- Sự giống nhau giữa bão và đàn ông:
1. Cả hai càng đi xa càng yếu đi
2. Cả hai nhiều lúc đều đe dọa rất cao rồi chả làm gì cả.
3. Cả hai khi tàn đều làm ướt cảnh vật.
4. Cả hai đôi khi chỉ được thiên hạ nhớ đến do sức tàn phá mà thôi.


Theo Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí






Lời kết:
- Hoa và người mà phụ nữ là hoa, vậy phần còn lại - đàn ông là người.
- Không những bão mang tên phụ nữ mà phụ nữ còn hóa thành bão. Bởi đại diện của phụ nữ, Nhà thơ Xuân Quỳnh đã viết:


“Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió
Nếu phải cách xa anh
Em chỉ còn bão tố”.

Phụ nữ họ mạnh mẽ như vậy, còn đàn ông thì bị cho là yếu đuối, bởi


Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ
Những ngày không gặp nhau
Lòng thuyền đau rạn vỡ”.


Tuy vậy, mọi chuyện chưa kết thúc


Châu Minh st

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2011

Người chồng nên biết

1. Người đẹp thì làm ta chú ý, còn người làm dáng thì… chú ý đến ta.
2. Vợ ngày xưa thường "nâng khăn sửa túi" cho chồng. Vợ ngày nay thường "ngửi khăn lục túi" của chồng.
3. "Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ" nhưng nếu bạn cười với một cô gái trước mặt vợ mình thì nụ cười ấy lại là thuốc… đỏ.
4. Người cho ta tiền là thầy ta, người cho ta mượn tiền là bạn bè ta, người lúc nào cũng muốn lấy tiền của ta ấy là vợ ta!
5. Có tiền mua tiên cũng được, nhưng đừng mua một "tiên nữ", vì như thế bạn sẽ không còn tiền.
6. Theo luật Hôn nhân gia đình thì đàn ông (con trai) ít ra cũng được tự do 20 năm (trước khi cưới vợ).
7. Nhậu nhiều thì vợ buồn, nhậu ít thì bạn bè buồn, còn không nhậu thì… mình buồn.
8. Hôn nhân là nghệ thuật sống chung hai người mà vẫn hạnh phúc như khi sống một mình.
9. Người ta thường dùng lửa để thử vàng, dùng vàng thử đàn bà, dùng đàn bà thử đàn ông và dùng đàn ông đi lấy lửa.
10. Người đàn ông đầu tiên so sánh phụ nữ với một đóa hồng là một thi sĩ, còn người thứ hai so sánh như thế là một người thiếu … kinh nghiệm.
11. Ðược tăng lương cũng giống như uống ly rượu, nó nâng tinh thần ta lên nhưng chỉ trong chốc lát thôi.
12. Nếp nhăn… là cái mà chỉ người khác có. Còn bạn chỉ có những "đường cá tính" mà thôi.
13. Lương tâm – đó là cái buộc ta phải kể với vợ tất cả mọi chuyện trước khi có ai đó mách.
14. Hãy luôn nhớ rằng bạn là người độc đáo, cũng như… những người khác.
15. Thời trang phụ nữ giống như hàng rào kẽm gai – bảo vệ dinh cơ nhưng không giới hạn tầm nhìn.
16. Nếu người chồng im lặng trong gia đình, nghĩa là vợ anh ta có tài năng của một nhạc trưởng.
17. Hôn nhân trong toán học: tự nhiên, phi lý và rất quan trọng cũng giống như số pi p.
18. Nếu một phụ nữ không chịu lấy chồng, người ta bảo cô ta có tính độc lập cao. Còn nếu một người đàn ông không chịu lấy vợ, người ta bảo hắn ta không dám dấn thân.
19. Phụ nữ luôn sẵn sàng tha thứ. Nhưng họ không bao giờ quên những gì họ đã tha thứ.
20. Trong 24 tháng đầu tiên của cuộc đời một đứa trẻ, người ta dạy chúng đi và nói. 24 tháng tiếp theo, họ sẽ bảo chúng ngồi yên và câm miệng.
21. Phụ nữ và các nhà dự báo thời tiết giống nhau ở chỗ họ thường chỉ thừa nhận mình đã lầm chứ không sai!
22. Cô gái già là phụ nữ không thành công trong việc kiếm chồng, còn trai già là đàn ông thành công trong việc không lấy vợ.
23. Ba giai đọan của một đời người: tin vào ông già Noel, không tin vào ông già Noel và làm ông già Noel.
24. Ðàn ông tốt có ở khắp mọi nơi trên thế giới, trừ dưới mái nhà của vợ mình.
25. Ðàn ông tha thứ rồi quên đi, còn đàn bà thì chỉ tha thứ.
26. Tất cả đàn ông đều có lúc lầm lỗi, nhưng người đã có vợ bao giờ cũng nhận ra sai lầm của mình nhanh hơn.



ĐôĐH st